Xu Hướng 2/2024 # Vụ Bí Ẩn: Con Chó Tàng Hình Chương 4: Con Chó Ma Quỷ, # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Vụ Bí Ẩn: Con Chó Tàng Hình Chương 4: Con Chó Ma Quỷ, được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Dhrhm.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đã gần tám giờ lúc Ba Thám Tử Trẻ bước xuống xe buýt Wilshire và đi đến Paseo Place. Cha xứ nhà thờ St. Jude, đang đứng trước nhà, lục lạo trong túi áo khi ba thám tử bước đến. Ông vui vẻ gật đầu chào và chúc một buổi sáng tốt lành.

Hannibal, Bon và Peter không gặp bà Bortz khó chịu khi bước vào tòa nhà ông Prentice ở, nhưng ba bạn không thấy ông ở nhà.

“Ba bạn trẻ của tôi”, giấy nhắn viết, “tôi ở số 329 Lucan Court. Nhà ngay phía sau lưng tòa nhà này. Băng qua lối đi, vòng ra cửa trước. Tôi sẽ chờ các cậu.”

– Là căn nhà bị trộm vào – Hannibal nói.

Ba Thám Tử Trẻ nhìn xuống ban- công và thấy bà Bortz đã ra khỏi nhà. Bà mặc áo đầm, mái tóc đỏ hung rối bù.

– Ông Prentice không có ở nhà à? – Bà hỏi.

– Dường như không – Hannibal nói.

– Không hiểu ông ta có thể đi đâu vào giờ này nhỉ? – Bà nói.

Ba thám tử không trả lời bà. Ba bạn đi xuống cầu thang, băng qua sân, ra ngoài bằng lối sau tòa nhà – một lối nhỏ đi ngang qua chỗ giặt ủi, nhà kho và có vài bậc thềm dẫn lên lối đi. Ba thám tử nhìn thấy thùng rác, nhà xe và lưng các tòa nhà của đường bên kia.

Đúng như Fenton Prentice đã nói, số 329 Lucan Court nằm ngay phía sau lưng căn hộ của ông. Đó là một dinh thự vuông vức, một tầng. Khi Peter bấm chuông, thì người ra mở cửa là Charles Niedland, người đàn ông tóc bạc đứng nói chuyện với Fenton Prentice tối hôm qua. Trông ông có vẻ nhớn nhác.

– Mời vào.

Ông bước lui, mở rộng cánh cửa.

Ba Thám Tử Trẻ bước vào một nơi nửa nhà nửa căn hộ đơn. Cửa sổ mái được khoét ngay giữa trần phòng khách. Phòng không có thảm và rất ít đồ gỗ. Có nhiều bàn vẽ và một giá vẽ. Hình chụp và phác hoạ được ghim khắp nơi trên tường, sách được xếp thành chồng khắp mọi nơi. Có cả một máy truyền hình nhỏ, một dàn âm thanh stereo tinh vi và một bộ đĩa đồ sộ.

Fenton Prentice ngồi trên giường, hai tay ôm cằm. Trông ông mệt mỗi nhưng bình tĩnh.

– Chào các cậu – ông nói – Có thể các cậu sẽ muốn giải thêm một vụ bí ẩn nữa. Hoá ra, chính tôi là người bị mất trộm tối hôm qua.

– Kìa, anh Fenton – Charles Niedland nói – tôi tin chắc chỉ là một vụ trộm ngẫu nhiên thôi. Cảnh sát đã làm cho tên trộm hoảng sợ trước khi hắn kịp lấy thêm gì khác ngoài con chó Carpates.

Charles Niedland quay sang ba thám tử.

– Anh Fenton có nói tôi rằng các cậu có tài điều tra. Tôi nghĩ trong trường hợp này không có gì bất bình thường để điều tra. Tên trộm vào bằng cửa sổ nhà bếp. Hắn dùng dao cắt kiếng đục một lỗ, với tới mở cái chốt ra. Rất bình thường.

– Nhưng hắn chỉ lấy mỗi con chó Carpates – Prentice nhấn mạnh.

– Cảnh sát không cho rằng như vậy là bất bình thường – Charles Niedland nói – Cảnh sát nói máy truyền hình không đáng một xu, màn hình chỉ có chín inch. Còn dàn stereo thì mang số bảo hiểm xã hội của em trai tôi ở dưới đế dĩa và trên hai cái loa. Sẽ rất khó bán lại. Ngoài ra ở đây không còn gì đáng giá nữa. Em trai tôi sống rất giản dị.

– Một nghệ nhân vĩ đại – ông Prentice nói – Cậu ấy sống vì nghệ thuật.

– Con chó Carpates là gì ạ? – Peter hỏi.

Charles Niedland mỉm cười.

Hannibal gật đầu ra vẻ hiểu biết.

– Vùng ấy còn được biết với tên Transylvania. Quỷ hút máu Dracula được cho là sống tại vùng đó.

– Đúng – Charles Niedland nói – nhưng con chó ma quỷ không phải là quỷ hút máu, mà cũng không phải ma sói. Dân làng tin rằng con chó là hồn ma của một ông quý tộc – một người say mê săn bắn và đã nuôi một đàn chó săn hung dữ. Nghe nói đàn chó có lai sói.Ôông quý tộc muốn đàn chó phải thật nhạy bén khi săn, nên ông để chúng ốm đói. Theo truyền thuyết cũ, vào một đêm có một con chó xổng chuồng đã cắn chết một đứa bé.

– Ghê quá! – Bob thốt lên.

– Đúng. Một tấn bi kịch, nếu thật có chuyện ấy xảy ra. Cha của đứa bé yêu cầu phải giết hết đàn chó. Ông quý tộc không chịu, và người ta kể rằng ông ấy đã quăng vài đồng tiền cho người dân làng này để đền bu cho đứa trẻ đã chết. Dĩ nhiên là người cha giận điên lên, và trong cơn tức, người này đã lượm một cục đá, ném mạnh vào ông quý tộc. Cục đá làm ông này chết, nhưng không chết ngay. Trước khi chết, nhà quý tộc xấu xa đã nguyền rủa cả làng và tất cả những ai sống trong làng. Ông ấy nguyện sẽ trở về làm ma ám nơi đó.

– Cháu đoán ông ấy biến thành một con chó? – Peter nói.

– Một con chó đàn khổng lồ – Charles Niedland nói – một con chó săn ốm đói, có thể có lai sói. Toàn bộ đàn chó săn của ông quý tộc bị hủy diệt, nhưng vào những đêm tối tăm, một sinh thể hốc hác trơ xương sườn chạy lang thang ngoài đường, kêu rên la hét. Dân chúng khiếp sợ. Có vài người để thức ăn ở ngoài cho con thú, nhưng nó không chịu ăn. Nếu con chó ma quỷ từng là ông quý tộc, thì lời nguyền rủa đã thành sự thật. Ông ấy đã quay về ám ngôi làng. Tuy nhiên, có một sự công bằng kinh tởm trong chuyện này, bởi vì ông ấy luôn ốm đói, y như đàn chó của ông từng bị ốm đói. Đến một lúc nào đó, dân làng không chịu nổi bỏ đi chỗ khác ở. Nếu con chó vẫn còn lang thang chỗ đó thì nó làm ma ám một nơi hoang tàn bỏ hoang.

– Em trai của bác vẽ tranh con chó à? – Hannibal hỏi.

– Em trai tôi không phải hoạ sĩ – Charles Niedland giải thích – Cậu ấy là một nhà điêu khắc nhưng cậu ấy có phác họa khi nghiên cứu thiết kế. Cậu ấy làm việc với thủy tinh và pha lê – đôi khi pha lê kết hợp với kim loại.

– Con chó Carpates là tác phẩm tuyệt đẹp – Fenton Prentice nói – Edward Niedland thực hiện tuyệt tác ấy đặc biệt cho tôi. Hoàn thành cách đây một tháng nhưng chưa giao. Edward Niedland có cuộc triển lãm về những tác phẩm mới nhất của mình tại Hành lang Maller, và cậu ấy muốn đưa vào đó con chó Carpates. Dĩ nhiên là tôi vui lòng để cậu ấy trưng bày. Vậy mà bây giờ mất hết rồi!

– Vậy là một bức tượng chó bằng thủy tinh – Bob khẳng định.

– Pha lê – ông Prentice chỉnh – pha lê và vàng.

– Pha lê là một loại thủy tinh – Charles Niedland nói rõ – nhưng một loại rất đặc biệt. Làm bằng thứ silic hảo hạng nhất, với hàm lượng oxyt chì rất cao, do đó nặng hơn và sáng hơn thủy tinh bình thường nhiều. Em trai tôi làm việc với thủy tinh – và pha lê – nóng đến nỗi gần như là chất lỏng. Cậu ấy tạo hình bằng công cụ, rồi nung nóng trở lại khi đã nguội, rồi tạo hình thêm nữa, nung nóng, tạo hình, cứ như thế cho đến khi có được hình thù như ý. Rồi cậu ấy sẽ hoàn chỉnh, chà và mài bằng axit. Khi xong rồi, con chó Carpates là một bức điêu khắc tuyệt vời. Mắt con chó được viền vàng, và có bọt vàng sùi ra ở mép. Trong truyền thuyết, người ta nói mắt con chó sáng chói lên.

– Có thể bác sẽ lấy lại được – Bob hy vọng nói – Một vật như thế sẽ rất khó bán.

– Sẽ bán được cho ai không có lương tâm và hiểu biết về công trình của Edward Niedland – Fenton Prentice nói – Cậu ấy còn trẻ quá… rất tài. Có người sẽ vui vẻ giao du với bọn trộm cướp để sỡ hữu được một tác phẩm của cậu ấy.

Hannibal nhìn khắp căn nhà giản dị.

– Chú ấy làm việc ở đây à? – Thám tử trưởng hỏi – Chú ấy phải cần một cái lò để làm việc với thủy tinh nóng chảy chứ?

– Em trai tôi có xưởng ở khu đông Los Angeles – Charles Niedland nói – Cậu ấy làm việc ở tại đó.

– Ở đây không có bức điêu khắc nào khác à? – Hannibal hỏi – Em của bác không giữ cái nào cho chính mình sao? Hay còn để ở xưởng?

– Edward có một bộ sưu tập nhỏ, tác phẩm của chính mình và của các nghệ nhân khác, giữ tại nhà ở đây. Tôi cho dọn mọi thứ đến một nơi an toàn hơn khi cậu ấy mất. Hoàn toàn do tình cờ mà con chó Carpates có ở đây khi tên trộm đột nhập vào.

Fenton Prentice thở dài.

– Triển lãm ở hành lang nghệ thuật của em tôi kết thúc cách đây vài ngày. Cậu ấy cũng đã mượn vài món của những chủ nhân khác, và tôi đã mang trả lại. Cuối giờ chiều hôm qua, tôi ghé qua đây, định giao con chó Carpates cho anh Fenton và soạn vài quyển sách của em tôi. Tôi đến đúng lúc anh Fenton đang chờ các cậu – anh ấy đã nói với tôi trước về các cậu trong ngày, khi tôi gọi để sắp xếp hẹn. Nên tôi để con chó Carpates lại, đi ra ngoài ăn một tí. Khi trở về, tôi nhìn qua cửa sổ thấy có kẻ lạ đang ở trong nhà. Tôi gọi cảnh sát ngay bằng điện thoại của hàng xóm.

– Anh Charles à, anh thật là bất cẩn – ông Prentice nói giọng hơi cay đắng.

– Kìa anh Fenton ơi, đừng cãi nhau nữa chứ – Charles Niedland trả lời – cứ cho là xui xẻo.

– Có ai biết rằng con chó sẽ được giao hôm qua không? – Hannibal hỏi.

Cả hai người đàn ông lắc đầu.

– Con chó Carpates có được bảo hiểm không? – Bob hỏi.

– Có, nhưng ích lợi gì khi nó không còn nữa? – Prentice đáp – Cũng… cũng y như bị mất bức Mona Lisa vậy! Người ta không thể nào được đền bù một vật như thế.

– Chắc là cảnh sát đã tìm thử dấu vân tay và các thứ khác? – Hannibal nói.

– Cảnh sát ở đây đến nửa đêm rắc bột dấu vân tay khắp mọi nơi – Charles Niedland trả lời – Dường như không tìm thấy gì cụ thể cả. Hiện cảnh sát đang kiểm tra hồ sơ về các tội phạm đã biết xem có tên nào chuyên trộm đồ mỹ nghệ hay không.

– Chắc chắn cảnh sát sẽ rà rất kỹ – Hannibal nói – cháu không nghĩ tụi cháu có thể làm gì hơn.

Ông Prentice gật đầu, chào Charles Niedland, rồi dẫn ba thám tử trở về lối đi sau nhà, vào sân tòa nhà ông ở. Bà Bortz có mặt ở đó, đang lặt lá khô trên cây. Ông Prentice làm như không thấy bà và đi lên lầu, cùng ba thám tử theo sau.

Khi đã vào căn hộ ông Prentice, Hannibal lấy hũ thuốc bôi ra và trình bày kế hoạch.

– Ngăn kéo bàn viết của bác có tay cầm bằng sứ – thám tử trưởng nói với ông Prentice – rất thích hợp cho mục đích này. Hoá chất này phản ứng với kim loại và có thể làm hỏng đồng hoặc thau nhưng không phương hại gì men sứ. Ta sẽ bôi tay cầm với thuốc này, rồi đi ra khỏi nhà. Nếu có ai đến trong khi bác đi vắng và mở tủ kéo, bàn viết thì kẻ đó sẽ bị dính những vết đen trên tay.

– Kẻ đột nhập có vẻ có khả năng đi lại cho dù có tôi hay không có tôi – Prentice nói – Ngoài ra, dường như nó còn không biết đến tường và cửa. Thì tại sao nó sẽ bận tâm đến ngăn kéo?

– Bác Prentice ơi, ít nhất ta cũng có thể thử xem sao – Hannibal nói – Bác nói tụi cháu rằng có lần bác về nhà và phát hiện ngăn kéo bác bị lục soát.

– Được rồi – Prentice nói – tôi muốn thử bất cứ thứ gì. Ta hãy bôi thuốc trên các ngăn kéo rồi ra ngoài kiếm gì ăn.

– Tuyệt quá! – Peter reo lên – Cháu đang đói bụng gần chết!

Hannibal bôi thứ thuốc thần tiên của mình lên các tay cầm bàn viết của ông Prentice. Sau đó Hannibal, Bob và Peter ra ngoài cùng ông Prentice, bước từ từ xuống cầu thang, nói chuyện lớn tiếng về địa điểm sẽ ăn. Sân vắng vẻ nhưng ngoài cổng mọi người gặp bà Bortz và chàng thanh niên gầy tên Sonny Elmquist. Cả hai đang nhìn về hướng nhà thờ.

Có một chiếc xe cứu thương đang đậu ngay cổng nhà thờ.

– Có chuyện gì xảy ra vậy? – Peter hỏi.

– Người bảo vệ nhà thờ – Elmquist nói – Anh ta bị thương! Cha xứ mới tìm thấy anh ta trên đài đồng ca!

Vụ Bí Ẩn Con Chó Tàng Hình

Đã gần tám giờ lúc Ba Thám Tử Trẻ bước xuống xe buýt Wilshire và đi đến Paseo Place. Cha xứ nhà thờ St. Jude, đang đứng trước nhà, lục lạo trong túi áo khi ba thám tử bước đến. Ông vui vẻ gật đầu chào và chúc một buổi sáng tốt lành.

Hannibal, Bon và Peter không gặp bà Bortz khó chịu khi bước vào tòa nhà ông Prentice ở, nhưng ba bạn không thấy ông ở nhà.

“Ba bạn trẻ của tôi”, giấy nhắn viết, “tôi ở số 329 Lucan Court. Nhà ngay phía sau lưng tòa nhà này. Băng qua lối đi, vòng ra cửa trước. Tôi sẽ chờ các cậu.”

– Là căn nhà bị trộm vào – Hannibal nói.

Ba Thám Tử Trẻ nhìn xuống ban- công và thấy bà Bortz đã ra khỏi nhà. Bà mặc áo đầm, mái tóc đỏ hung rối bù.

– Ông Prentice không có ở nhà à? – Bà hỏi.

– Dường như không – Hannibal nói.

– Không hiểu ông ta có thể đi đâu vào giờ này nhỉ? – Bà nói.

Ba thám tử không trả lời bà. Ba bạn đi xuống cầu thang, băng qua sân, ra ngoài bằng lối sau tòa nhà – một lối nhỏ đi ngang qua chỗ giặt ủi, nhà kho và có vài bậc thềm dẫn lên lối đi. Ba thám tử nhìn thấy thùng rác, nhà xe và lưng các tòa nhà của đường bên kia.

Đúng như Fenton Prentice đã nói, số 329 Lucan Court nằm ngay phía sau lưng căn hộ của ông. Đó là một dinh thự vuông vức, một tầng. Khi Peter bấm chuông, thì người ra mở cửa là Charles Niedland, người đàn ông tóc bạc đứng nói chuyện với Fenton Prentice tối hôm qua. Trông ông có vẻ nhớn nhác.

– Mời vào.

Ông bước lui, mở rộng cánh cửa.

Ba Thám Tử Trẻ bước vào một nơi nửa nhà nửa căn hộ đơn. Cửa sổ mái được khoét ngay giữa trần phòng khách. Phòng không có thảm và rất ít đồ gỗ. Có nhiều bàn vẽ và một giá vẽ. Hình chụp và phác hoạ được ghim khắp nơi trên tường, sách được xếp thành chồng khắp mọi nơi. Có cả một máy truyền hình nhỏ, một dàn âm thanh stereo tinh vi và một bộ đĩa đồ sộ.

Fenton Prentice ngồi trên giường, hai tay ôm cằm. Trông ông mệt mỗi nhưng bình tĩnh.

– Chào các cậu – ông nói – Có thể các cậu sẽ muốn giải thêm một vụ bí ẩn nữa. Hoá ra, chính tôi là người bị mất trộm tối hôm qua.

– Kìa, anh Fenton – Charles Niedland nói – tôi tin chắc chỉ là một vụ trộm ngẫu nhiên thôi. Cảnh sát đã làm cho tên trộm hoảng sợ trước khi hắn kịp lấy thêm gì khác ngoài con chó Carpates.

Charles Niedland quay sang ba thám tử.

– Anh Fenton có nói tôi rằng các cậu có tài điều tra. Tôi nghĩ trong trường hợp này không có gì bất bình thường để điều tra. Tên trộm vào bằng cửa sổ nhà bếp. Hắn dùng dao cắt kiếng đục một lỗ, với tới mở cái chốt ra. Rất bình thường.

– Nhưng hắn chỉ lấy mỗi con chó Carpates – Prentice nhấn mạnh.

– Cảnh sát không cho rằng như vậy là bất bình thường – Charles Niedland nói – Cảnh sát nói máy truyền hình không đáng một xu, màn hình chỉ có chín inch. Còn dàn stereo thì mang số bảo hiểm xã hội của em trai tôi ở dưới đế dĩa và trên hai cái loa. Sẽ rất khó bán lại. Ngoài ra ở đây không còn gì đáng giá nữa. Em trai tôi sống rất giản dị.

– Một nghệ nhân vĩ đại – ông Prentice nói – Cậu ấy sống vì nghệ thuật.

– Con chó Carpates là gì ạ? – Peter hỏi.

Charles Niedland mỉm cười.

Hannibal gật đầu ra vẻ hiểu biết.

– Vùng ấy còn được biết với tên Transylvania. Quỷ hút máu Dracula được cho là sống tại vùng đó.

– Đúng – Charles Niedland nói – nhưng con chó ma quỷ không phải là quỷ hút máu, mà cũng không phải ma sói. Dân làng tin rằng con chó là hồn ma của một ông quý tộc – một người say mê săn bắn và đã nuôi một đàn chó săn hung dữ. Nghe nói đàn chó có lai sói.Ôông quý tộc muốn đàn chó phải thật nhạy bén khi săn, nên ông để chúng ốm đói. Theo truyền thuyết cũ, vào một đêm có một con chó xổng chuồng đã cắn chết một đứa bé.

– Ghê quá! – Bob thốt lên.

– Đúng. Một tấn bi kịch, nếu thật có chuyện ấy xảy ra. Cha của đứa bé yêu cầu phải giết hết đàn chó. Ông quý tộc không chịu, và người ta kể rằng ông ấy đã quăng vài đồng tiền cho người dân làng này để đền bu cho đứa trẻ đã chết. Dĩ nhiên là người cha giận điên lên, và trong cơn tức, người này đã lượm một cục đá, ném mạnh vào ông quý tộc. Cục đá làm ông này chết, nhưng không chết ngay. Trước khi chết, nhà quý tộc xấu xa đã nguyền rủa cả làng và tất cả những ai sống trong làng. Ông ấy nguyện sẽ trở về làm ma ám nơi đó.

– Cháu đoán ông ấy biến thành một con chó? – Peter nói.

– Một con chó đàn khổng lồ – Charles Niedland nói – một con chó săn ốm đói, có thể có lai sói. Toàn bộ đàn chó săn của ông quý tộc bị hủy diệt, nhưng vào những đêm tối tăm, một sinh thể hốc hác trơ xương sườn chạy lang thang ngoài đường, kêu rên la hét. Dân chúng khiếp sợ. Có vài người để thức ăn ở ngoài cho con thú, nhưng nó không chịu ăn. Nếu con chó ma quỷ từng là ông quý tộc, thì lời nguyền rủa đã thành sự thật. Ông ấy đã quay về ám ngôi làng. Tuy nhiên, có một sự công bằng kinh tởm trong chuyện này, bởi vì ông ấy luôn ốm đói, y như đàn chó của ông từng bị ốm đói. Đến một lúc nào đó, dân làng không chịu nổi bỏ đi chỗ khác ở. Nếu con chó vẫn còn lang thang chỗ đó thì nó làm ma ám một nơi hoang tàn bỏ hoang.

– Em trai của bác vẽ tranh con chó à? – Hannibal hỏi.

– Em trai tôi không phải hoạ sĩ – Charles Niedland giải thích – Cậu ấy là một nhà điêu khắc nhưng cậu ấy có phác họa khi nghiên cứu thiết kế. Cậu ấy làm việc với thủy tinh và pha lê – đôi khi pha lê kết hợp với kim loại.

– Con chó Carpates là tác phẩm tuyệt đẹp – Fenton Prentice nói – Edward Niedland thực hiện tuyệt tác ấy đặc biệt cho tôi. Hoàn thành cách đây một tháng nhưng chưa giao. Edward Niedland có cuộc triển lãm về những tác phẩm mới nhất của mình tại Hành lang Maller, và cậu ấy muốn đưa vào đó con chó Carpates. Dĩ nhiên là tôi vui lòng để cậu ấy trưng bày. Vậy mà bây giờ mất hết rồi!

– Vậy là một bức tượng chó bằng thủy tinh – Bob khẳng định.

– Pha lê – ông Prentice chỉnh – pha lê và vàng.

– Pha lê là một loại thủy tinh – Charles Niedland nói rõ – nhưng một loại rất đặc biệt. Làm bằng thứ silic hảo hạng nhất, với hàm lượng oxyt chì rất cao, do đó nặng hơn và sáng hơn thủy tinh bình thường nhiều. Em trai tôi làm việc với thủy tinh – và pha lê – nóng đến nỗi gần như là chất lỏng. Cậu ấy tạo hình bằng công cụ, rồi nung nóng trở lại khi đã nguội, rồi tạo hình thêm nữa, nung nóng, tạo hình, cứ như thế cho đến khi có được hình thù như ý. Rồi cậu ấy sẽ hoàn chỉnh, chà và mài bằng axit. Khi xong rồi, con chó Carpates là một bức điêu khắc tuyệt vời. Mắt con chó được viền vàng, và có bọt vàng sùi ra ở mép. Trong truyền thuyết, người ta nói mắt con chó sáng chói lên.

– Có thể bác sẽ lấy lại được – Bob hy vọng nói – Một vật như thế sẽ rất khó bán.

– Sẽ bán được cho ai không có lương tâm và hiểu biết về công trình của Edward Niedland – Fenton Prentice nói – Cậu ấy còn trẻ quá… rất tài. Có người sẽ vui vẻ giao du với bọn trộm cướp để sỡ hữu được một tác phẩm của cậu ấy.

Hannibal nhìn khắp căn nhà giản dị.

– Chú ấy làm việc ở đây à? – Thám tử trưởng hỏi – Chú ấy phải cần một cái lò để làm việc với thủy tinh nóng chảy chứ?

– Em trai tôi có xưởng ở khu đông Los Angeles – Charles Niedland nói – Cậu ấy làm việc ở tại đó.

– Ở đây không có bức điêu khắc nào khác à? – Hannibal hỏi – Em của bác không giữ cái nào cho chính mình sao? Hay còn để ở xưởng?

– Edward có một bộ sưu tập nhỏ, tác phẩm của chính mình và của các nghệ nhân khác, giữ tại nhà ở đây. Tôi cho dọn mọi thứ đến một nơi an toàn hơn khi cậu ấy mất. Hoàn toàn do tình cờ mà con chó Carpates có ở đây khi tên trộm đột nhập vào.

Fenton Prentice thở dài.

– Triển lãm ở hành lang nghệ thuật của em tôi kết thúc cách đây vài ngày. Cậu ấy cũng đã mượn vài món của những chủ nhân khác, và tôi đã mang trả lại. Cuối giờ chiều hôm qua, tôi ghé qua đây, định giao con chó Carpates cho anh Fenton và soạn vài quyển sách của em tôi. Tôi đến đúng lúc anh Fenton đang chờ các cậu – anh ấy đã nói với tôi trước về các cậu trong ngày, khi tôi gọi để sắp xếp hẹn. Nên tôi để con chó Carpates lại, đi ra ngoài ăn một tí. Khi trở về, tôi nhìn qua cửa sổ thấy có kẻ lạ đang ở trong nhà. Tôi gọi cảnh sát ngay bằng điện thoại của hàng xóm.

– Anh Charles à, anh thật là bất cẩn – ông Prentice nói giọng hơi cay đắng.

– Kìa anh Fenton ơi, đừng cãi nhau nữa chứ – Charles Niedland trả lời – cứ cho là xui xẻo.

– Có ai biết rằng con chó sẽ được giao hôm qua không? – Hannibal hỏi.

Cả hai người đàn ông lắc đầu.

– Con chó Carpates có được bảo hiểm không? – Bob hỏi.

– Có, nhưng ích lợi gì khi nó không còn nữa? – Prentice đáp – Cũng… cũng y như bị mất bức Mona Lisa vậy! Người ta không thể nào được đền bù một vật như thế.

– Chắc là cảnh sát đã tìm thử dấu vân tay và các thứ khác? – Hannibal nói.

– Cảnh sát ở đây đến nửa đêm rắc bột dấu vân tay khắp mọi nơi – Charles Niedland trả lời – Dường như không tìm thấy gì cụ thể cả. Hiện cảnh sát đang kiểm tra hồ sơ về các tội phạm đã biết xem có tên nào chuyên trộm đồ mỹ nghệ hay không.

– Chắc chắn cảnh sát sẽ rà rất kỹ – Hannibal nói – cháu không nghĩ tụi cháu có thể làm gì hơn.

Ông Prentice gật đầu, chào Charles Niedland, rồi dẫn ba thám tử trở về lối đi sau nhà, vào sân tòa nhà ông ở. Bà Bortz có mặt ở đó, đang lặt lá khô trên cây. Ông Prentice làm như không thấy bà và đi lên lầu, cùng ba thám tử theo sau.

Khi đã vào căn hộ ông Prentice, Hannibal lấy hũ thuốc bôi ra và trình bày kế hoạch.

– Ngăn kéo bàn viết của bác có tay cầm bằng sứ – thám tử trưởng nói với ông Prentice – rất thích hợp cho mục đích này. Hoá chất này phản ứng với kim loại và có thể làm hỏng đồng hoặc thau nhưng không phương hại gì men sứ. Ta sẽ bôi tay cầm với thuốc này, rồi đi ra khỏi nhà. Nếu có ai đến trong khi bác đi vắng và mở tủ kéo, bàn viết thì kẻ đó sẽ bị dính những vết đen trên tay.

– Kẻ đột nhập có vẻ có khả năng đi lại cho dù có tôi hay không có tôi – Prentice nói – Ngoài ra, dường như nó còn không biết đến tường và cửa. Thì tại sao nó sẽ bận tâm đến ngăn kéo?

– Bác Prentice ơi, ít nhất ta cũng có thể thử xem sao – Hannibal nói – Bác nói tụi cháu rằng có lần bác về nhà và phát hiện ngăn kéo bác bị lục soát.

– Được rồi – Prentice nói – tôi muốn thử bất cứ thứ gì. Ta hãy bôi thuốc trên các ngăn kéo rồi ra ngoài kiếm gì ăn.

– Tuyệt quá! – Peter reo lên – Cháu đang đói bụng gần chết!

Hannibal bôi thứ thuốc thần tiên của mình lên các tay cầm bàn viết của ông Prentice. Sau đó Hannibal, Bob và Peter ra ngoài cùng ông Prentice, bước từ từ xuống cầu thang, nói chuyện lớn tiếng về địa điểm sẽ ăn. Sân vắng vẻ nhưng ngoài cổng mọi người gặp bà Bortz và chàng thanh niên gầy tên Sonny Elmquist. Cả hai đang nhìn về hướng nhà thờ.

Có một chiếc xe cứu thương đang đậu ngay cổng nhà thờ.

– Có chuyện gì xảy ra vậy? – Peter hỏi.

– Người bảo vệ nhà thờ – Elmquist nói – Anh ta bị thương! Cha xứ mới tìm thấy anh ta trên đài đồng ca!

Bạn đang đọc truyện trên: chúng tôi

Truyện: Vụ Bí Ẩn Con Chó Tàng Hình

Đã gần tám giờ lúc Ba Thám Tử Trẻ bước xuống xe buýt Wilshire và đi đến Paseo Place. Cha xứ nhà thờ St. Jude, đang đứng trước nhà, lục lạo trong túi áo khi ba thám tử bước đến. Ông vui vẻ gật đầu chào và chúc một buổi sáng tốt lành.

Hannibal, Bon và Peter không gặp bà Bortz khó chịu khi bước vào tòa nhà ông Prentice ở, nhưng ba bạn không thấy ông ở nhà.

“Ba bạn trẻ của tôi”, giấy nhắn viết, “tôi ở số 329 Lucan Court. Nhà ngay phía sau lưng tòa nhà này. Băng qua lối đi, vòng ra cửa trước. Tôi sẽ chờ các cậu.”

– Là căn nhà bị trộm vào – Hannibal nói.

Ba Thám Tử Trẻ nhìn xuống ban- công và thấy bà Bortz đã ra khỏi nhà. Bà mặc áo đầm, mái tóc đỏ hung rối bù.

– Ông Prentice không có ở nhà à? – Bà hỏi.

– Dường như không – Hannibal nói.

– Không hiểu ông ta có thể đi đâu vào giờ này nhỉ? – Bà nói.

Ba thám tử không trả lời bà. Ba bạn đi xuống cầu thang, băng qua sân, ra ngoài bằng lối sau tòa nhà – một lối nhỏ đi ngang qua chỗ giặt ủi, nhà kho và có vài bậc thềm dẫn lên lối đi. Ba thám tử nhìn thấy thùng rác, nhà xe và lưng các tòa nhà của đường bên kia.

Đúng như Fenton Prentice đã nói, số 329 Lucan Court nằm ngay phía sau lưng căn hộ của ông. Đó là một dinh thự vuông vức, một tầng. Khi Peter bấm chuông, thì người ra mở cửa là Charles Niedland, người đàn ông tóc bạc đứng nói chuyện với Fenton Prentice tối hôm qua. Trông ông có vẻ nhớn nhác.

– Mời vào.

Ông bước lui, mở rộng cánh cửa.

Ba Thám Tử Trẻ bước vào một nơi nửa nhà nửa căn hộ đơn. Cửa sổ mái được khoét ngay giữa trần phòng khách. Phòng không có thảm và rất ít đồ gỗ. Có nhiều bàn vẽ và một giá vẽ. Hình chụp và phác hoạ được ghim khắp nơi trên tường, sách được xếp thành chồng khắp mọi nơi. Có cả một máy truyền hình nhỏ, một dàn âm thanh stereo tinh vi và một bộ đĩa đồ sộ.

Fenton Prentice ngồi trên giường, hai tay ôm cằm. Trông ông mệt mỗi nhưng bình tĩnh.

– Chào các cậu – ông nói – Có thể các cậu sẽ muốn giải thêm một vụ bí ẩn nữa. Hoá ra, chính tôi là người bị mất trộm tối hôm qua.

– Kìa, anh Fenton – Charles Niedland nói – tôi tin chắc chỉ là một vụ trộm ngẫu nhiên thôi. Cảnh sát đã làm cho tên trộm hoảng sợ trước khi hắn kịp lấy thêm gì khác ngoài con chó Carpates.

Charles Niedland quay sang ba thám tử.

– Anh Fenton có nói tôi rằng các cậu có tài điều tra. Tôi nghĩ trong trường hợp này không có gì bất bình thường để điều tra. Tên trộm vào bằng cửa sổ nhà bếp. Hắn dùng dao cắt kiếng đục một lỗ, với tới mở cái chốt ra. Rất bình thường.

– Nhưng hắn chỉ lấy mỗi con chó Carpates – Prentice nhấn mạnh.

– Cảnh sát không cho rằng như vậy là bất bình thường – Charles Niedland nói – Cảnh sát nói máy truyền hình không đáng một xu, màn hình chỉ có chín inch. Còn dàn stereo thì mang số bảo hiểm xã hội của em trai tôi ở dưới đế dĩa và trên hai cái loa. Sẽ rất khó bán lại. Ngoài ra ở đây không còn gì đáng giá nữa. Em trai tôi sống rất giản dị.

– Một nghệ nhân vĩ đại – ông Prentice nói – Cậu ấy sống vì nghệ thuật.

– Con chó Carpates là gì ạ? – Peter hỏi.

Charles Niedland mỉm cười.

Hannibal gật đầu ra vẻ hiểu biết.

– Vùng ấy còn được biết với tên Transylvania. Quỷ hút máu Dracula được cho là sống tại vùng đó.

– Đúng – Charles Niedland nói – nhưng con chó ma quỷ không phải là quỷ hút máu, mà cũng không phải ma sói. Dân làng tin rằng con chó là hồn ma của một ông quý tộc – một người say mê săn bắn và đã nuôi một đàn chó săn hung dữ. Nghe nói đàn chó có lai sói.Ôông quý tộc muốn đàn chó phải thật nhạy bén khi săn, nên ông để chúng ốm đói. Theo truyền thuyết cũ, vào một đêm có một con chó xổng chuồng đã cắn chết một đứa bé.

– Ghê quá! – Bob thốt lên.

– Đúng. Một tấn bi kịch, nếu thật có chuyện ấy xảy ra. Cha của đứa bé yêu cầu phải giết hết đàn chó. Ông quý tộc không chịu, và người ta kể rằng ông ấy đã quăng vài đồng tiền cho người dân làng này để đền bu cho đứa trẻ đã chết. Dĩ nhiên là người cha giận điên lên, và trong cơn tức, người này đã lượm một cục đá, ném mạnh vào ông quý tộc. Cục đá làm ông này chết, nhưng không chết ngay. Trước khi chết, nhà quý tộc xấu xa đã nguyền rủa cả làng và tất cả những ai sống trong làng. Ông ấy nguyện sẽ trở về làm ma ám nơi đó.

– Cháu đoán ông ấy biến thành một con chó? – Peter nói.

– Một con chó đàn khổng lồ – Charles Niedland nói – một con chó săn ốm đói, có thể có lai sói. Toàn bộ đàn chó săn của ông quý tộc bị hủy diệt, nhưng vào những đêm tối tăm, một sinh thể hốc hác trơ xương sườn chạy lang thang ngoài đường, kêu rên la hét. Dân chúng khiếp sợ. Có vài người để thức ăn ở ngoài cho con thú, nhưng nó không chịu ăn. Nếu con chó ma quỷ từng là ông quý tộc, thì lời nguyền rủa đã thành sự thật. Ông ấy đã quay về ám ngôi làng. Tuy nhiên, có một sự công bằng kinh tởm trong chuyện này, bởi vì ông ấy luôn ốm đói, y như đàn chó của ông từng bị ốm đói. Đến một lúc nào đó, dân làng không chịu nổi bỏ đi chỗ khác ở. Nếu con chó vẫn còn lang thang chỗ đó thì nó làm ma ám một nơi hoang tàn bỏ hoang.

– Em trai của bác vẽ tranh con chó à? – Hannibal hỏi.

– Em trai tôi không phải hoạ sĩ – Charles Niedland giải thích – Cậu ấy là một nhà điêu khắc nhưng cậu ấy có phác họa khi nghiên cứu thiết kế. Cậu ấy làm việc với thủy tinh và pha lê – đôi khi pha lê kết hợp với kim loại.

– Con chó Carpates là tác phẩm tuyệt đẹp – Fenton Prentice nói – Edward Niedland thực hiện tuyệt tác ấy đặc biệt cho tôi. Hoàn thành cách đây một tháng nhưng chưa giao. Edward Niedland có cuộc triển lãm về những tác phẩm mới nhất của mình tại Hành lang Maller, và cậu ấy muốn đưa vào đó con chó Carpates. Dĩ nhiên là tôi vui lòng để cậu ấy trưng bày. Vậy mà bây giờ mất hết rồi!

– Vậy là một bức tượng chó bằng thủy tinh – Bob khẳng định.

– Pha lê – ông Prentice chỉnh – pha lê và vàng.

– Pha lê là một loại thủy tinh – Charles Niedland nói rõ – nhưng một loại rất đặc biệt. Làm bằng thứ silic hảo hạng nhất, với hàm lượng oxyt chì rất cao, do đó nặng hơn và sáng hơn thủy tinh bình thường nhiều. Em trai tôi làm việc với thủy tinh – và pha lê – nóng đến nỗi gần như là chất lỏng. Cậu ấy tạo hình bằng công cụ, rồi nung nóng trở lại khi đã nguội, rồi tạo hình thêm nữa, nung nóng, tạo hình, cứ như thế cho đến khi có được hình thù như ý. Rồi cậu ấy sẽ hoàn chỉnh, chà và mài bằng axit. Khi xong rồi, con chó Carpates là một bức điêu khắc tuyệt vời. Mắt con chó được viền vàng, và có bọt vàng sùi ra ở mép. Trong truyền thuyết, người ta nói mắt con chó sáng chói lên.

– Có thể bác sẽ lấy lại được – Bob hy vọng nói – Một vật như thế sẽ rất khó bán.

– Sẽ bán được cho ai không có lương tâm và hiểu biết về công trình của Edward Niedland – Fenton Prentice nói – Cậu ấy còn trẻ quá… rất tài. Có người sẽ vui vẻ giao du với bọn trộm cướp để sỡ hữu được một tác phẩm của cậu ấy.

Hannibal nhìn khắp căn nhà giản dị.

– Chú ấy làm việc ở đây à? – Thám tử trưởng hỏi – Chú ấy phải cần một cái lò để làm việc với thủy tinh nóng chảy chứ?

– Em trai tôi có xưởng ở khu đông Los Angeles – Charles Niedland nói – Cậu ấy làm việc ở tại đó.

– Ở đây không có bức điêu khắc nào khác à? – Hannibal hỏi – Em của bác không giữ cái nào cho chính mình sao? Hay còn để ở xưởng?

– Edward có một bộ sưu tập nhỏ, tác phẩm của chính mình và của các nghệ nhân khác, giữ tại nhà ở đây. Tôi cho dọn mọi thứ đến một nơi an toàn hơn khi cậu ấy mất. Hoàn toàn do tình cờ mà con chó Carpates có ở đây khi tên trộm đột nhập vào.

Fenton Prentice thở dài.

– Triển lãm ở hành lang nghệ thuật của em tôi kết thúc cách đây vài ngày. Cậu ấy cũng đã mượn vài món của những chủ nhân khác, và tôi đã mang trả lại. Cuối giờ chiều hôm qua, tôi ghé qua đây, định giao con chó Carpates cho anh Fenton và soạn vài quyển sách của em tôi. Tôi đến đúng lúc anh Fenton đang chờ các cậu – anh ấy đã nói với tôi trước về các cậu trong ngày, khi tôi gọi để sắp xếp hẹn. Nên tôi để con chó Carpates lại, đi ra ngoài ăn một tí. Khi trở về, tôi nhìn qua cửa sổ thấy có kẻ lạ đang ở trong nhà. Tôi gọi cảnh sát ngay bằng điện thoại của hàng xóm.

– Anh Charles à, anh thật là bất cẩn – ông Prentice nói giọng hơi cay đắng.

– Kìa anh Fenton ơi, đừng cãi nhau nữa chứ – Charles Niedland trả lời – cứ cho là xui xẻo.

– Có ai biết rằng con chó sẽ được giao hôm qua không? – Hannibal hỏi.

Cả hai người đàn ông lắc đầu.

– Con chó Carpates có được bảo hiểm không? – Bob hỏi.

– Có, nhưng ích lợi gì khi nó không còn nữa? – Prentice đáp – Cũng… cũng y như bị mất bức Mona Lisa vậy! Người ta không thể nào được đền bù một vật như thế.

– Chắc là cảnh sát đã tìm thử dấu vân tay và các thứ khác? – Hannibal nói.

– Cảnh sát ở đây đến nửa đêm rắc bột dấu vân tay khắp mọi nơi – Charles Niedland trả lời – Dường như không tìm thấy gì cụ thể cả. Hiện cảnh sát đang kiểm tra hồ sơ về các tội phạm đã biết xem có tên nào chuyên trộm đồ mỹ nghệ hay không.

– Chắc chắn cảnh sát sẽ rà rất kỹ – Hannibal nói – cháu không nghĩ tụi cháu có thể làm gì hơn.

Ông Prentice gật đầu, chào Charles Niedland, rồi dẫn ba thám tử trở về lối đi sau nhà, vào sân tòa nhà ông ở. Bà Bortz có mặt ở đó, đang lặt lá khô trên cây. Ông Prentice làm như không thấy bà và đi lên lầu, cùng ba thám tử theo sau.

Khi đã vào căn hộ ông Prentice, Hannibal lấy hũ thuốc bôi ra và trình bày kế hoạch.

– Ngăn kéo bàn viết của bác có tay cầm bằng sứ – thám tử trưởng nói với ông Prentice – rất thích hợp cho mục đích này. Hoá chất này phản ứng với kim loại và có thể làm hỏng đồng hoặc thau nhưng không phương hại gì men sứ. Ta sẽ bôi tay cầm với thuốc này, rồi đi ra khỏi nhà. Nếu có ai đến trong khi bác đi vắng và mở tủ kéo, bàn viết thì kẻ đó sẽ bị dính những vết đen trên tay.

– Kẻ đột nhập có vẻ có khả năng đi lại cho dù có tôi hay không có tôi – Prentice nói – Ngoài ra, dường như nó còn không biết đến tường và cửa. Thì tại sao nó sẽ bận tâm đến ngăn kéo?

– Bác Prentice ơi, ít nhất ta cũng có thể thử xem sao – Hannibal nói – Bác nói tụi cháu rằng có lần bác về nhà và phát hiện ngăn kéo bác bị lục soát.

– Được rồi – Prentice nói – tôi muốn thử bất cứ thứ gì. Ta hãy bôi thuốc trên các ngăn kéo rồi ra ngoài kiếm gì ăn.

– Tuyệt quá! – Peter reo lên – Cháu đang đói bụng gần chết!

Hannibal bôi thứ thuốc thần tiên của mình lên các tay cầm bàn viết của ông Prentice. Sau đó Hannibal, Bob và Peter ra ngoài cùng ông Prentice, bước từ từ xuống cầu thang, nói chuyện lớn tiếng về địa điểm sẽ ăn. Sân vắng vẻ nhưng ngoài cổng mọi người gặp bà Bortz và chàng thanh niên gầy tên Sonny Elmquist. Cả hai đang nhìn về hướng nhà thờ.

Có một chiếc xe cứu thương đang đậu ngay cổng nhà thờ.

– Có chuyện gì xảy ra vậy? – Peter hỏi.

– Người bảo vệ nhà thờ – Elmquist nói – Anh ta bị thương! Cha xứ mới tìm thấy anh ta trên đài đồng ca!

Vụ Bí Ẩn: Con Chó Tàng Hình

Đã gần tám giờ lúc Ba Thám Tử Trẻ bước xuống xe buýt Wilshire và đi đến Paseo Place. Cha xứ nhà thờ St. Jude, đang đứng trước nhà, lục lạo trong túi áo khi ba thám tử bước đến. Ông vui vẻ gật đầu chào và chúc một buổi sáng tốt lành.

Hannibal, Bon và Peter không gặp bà Bortz khó chịu khi bước vào tòa nhà ông Prentice ở, nhưng ba bạn không thấy ông ở nhà.

“Ba bạn trẻ của tôi”, giấy nhắn viết, “tôi ở số 329 Lucan Court. Nhà ngay phía sau lưng tòa nhà này. Băng qua lối đi, vòng ra cửa trước. Tôi sẽ chờ các cậu.”

– Là căn nhà bị trộm vào – Hannibal nói.

Ba Thám Tử Trẻ nhìn xuống ban- công và thấy bà Bortz đã ra khỏi nhà. Bà mặc áo đầm, mái tóc đỏ hung rối bù.

– Ông Prentice không có ở nhà à? – Bà hỏi.

– Dường như không – Hannibal nói.

– Không hiểu ông ta có thể đi đâu vào giờ này nhỉ? – Bà nói.

Ba thám tử không trả lời bà. Ba bạn đi xuống cầu thang, băng qua sân, ra ngoài bằng lối sau tòa nhà – một lối nhỏ đi ngang qua chỗ giặt ủi, nhà kho và có vài bậc thềm dẫn lên lối đi. Ba thám tử nhìn thấy thùng rác, nhà xe và lưng các tòa nhà của đường bên kia.

Đúng như Fenton Prentice đã nói, số 329 Lucan Court nằm ngay phía sau lưng căn hộ của ông. Đó là một dinh thự vuông vức, một tầng. Khi Peter bấm chuông, thì người ra mở cửa là Charles Niedland, người đàn ông tóc bạc đứng nói chuyện với Fenton Prentice tối hôm qua. Trông ông có vẻ nhớn nhác.

– Mời vào.

Ông bước lui, mở rộng cánh cửa.

Ba Thám Tử Trẻ bước vào một nơi nửa nhà nửa căn hộ đơn. Cửa sổ mái được khoét ngay giữa trần phòng khách. Phòng không có thảm và rất ít đồ gỗ. Có nhiều bàn vẽ và một giá vẽ. Hình chụp và phác hoạ được ghim khắp nơi trên tường, sách được xếp thành chồng khắp mọi nơi. Có cả một máy truyền hình nhỏ, một dàn âm thanh stereo tinh vi và một bộ đĩa đồ sộ.

Fenton Prentice ngồi trên giường, hai tay ôm cằm. Trông ông mệt mỗi nhưng bình tĩnh.

– Chào các cậu – ông nói – Có thể các cậu sẽ muốn giải thêm một vụ bí ẩn nữa. Hoá ra, chính tôi là người bị mất trộm tối hôm qua.

– Kìa, anh Fenton – Charles Niedland nói – tôi tin chắc chỉ là một vụ trộm ngẫu nhiên thôi. Cảnh sát đã làm cho tên trộm hoảng sợ trước khi hắn kịp lấy thêm gì khác ngoài con chó Carpates.

Charles Niedland quay sang ba thám tử.

– Anh Fenton có nói tôi rằng các cậu có tài điều tra. Tôi nghĩ trong trường hợp này không có gì bất bình thường để điều tra. Tên trộm vào bằng cửa sổ nhà bếp. Hắn dùng dao cắt kiếng đục một lỗ, với tới mở cái chốt ra. Rất bình thường.

– Nhưng hắn chỉ lấy mỗi con chó Carpates – Prentice nhấn mạnh.

– Cảnh sát không cho rằng như vậy là bất bình thường – Charles Niedland nói – Cảnh sát nói máy truyền hình không đáng một xu, màn hình chỉ có chín inch. Còn dàn stereo thì mang số bảo hiểm xã hội của em trai tôi ở dưới đế dĩa và trên hai cái loa. Sẽ rất khó bán lại. Ngoài ra ở đây không còn gì đáng giá nữa. Em trai tôi sống rất giản dị.

– Một nghệ nhân vĩ đại – ông Prentice nói – Cậu ấy sống vì nghệ thuật.

– Con chó Carpates là gì ạ? – Peter hỏi.

Charles Niedland mỉm cười.

Hannibal gật đầu ra vẻ hiểu biết.

– Vùng ấy còn được biết với tên Transylvania. Quỷ hút máu Dracula được cho là sống tại vùng đó.

– Đúng – Charles Niedland nói – nhưng con chó ma quỷ không phải là quỷ hút máu, mà cũng không phải ma sói. Dân làng tin rằng con chó là hồn ma của một ông quý tộc – một người say mê săn bắn và đã nuôi một đàn chó săn hung dữ. Nghe nói đàn chó có lai sói.Ôông quý tộc muốn đàn chó phải thật nhạy bén khi săn, nên ông để chúng ốm đói. Theo truyền thuyết cũ, vào một đêm có một con chó xổng chuồng đã cắn chết một đứa bé.

– Ghê quá! – Bob thốt lên.

– Đúng. Một tấn bi kịch, nếu thật có chuyện ấy xảy ra. Cha của đứa bé yêu cầu phải giết hết đàn chó. Ông quý tộc không chịu, và người ta kể rằng ông ấy đã quăng vài đồng tiền cho người dân làng này để đền bu cho đứa trẻ đã chết. Dĩ nhiên là người cha giận điên lên, và trong cơn tức, người này đã lượm một cục đá, ném mạnh vào ông quý tộc. Cục đá làm ông này chết, nhưng không chết ngay. Trước khi chết, nhà quý tộc xấu xa đã nguyền rủa cả làng và tất cả những ai sống trong làng. Ông ấy nguyện sẽ trở về làm ma ám nơi đó.

– Cháu đoán ông ấy biến thành một con chó? – Peter nói.

– Một con chó đàn khổng lồ – Charles Niedland nói – một con chó săn ốm đói, có thể có lai sói. Toàn bộ đàn chó săn của ông quý tộc bị hủy diệt, nhưng vào những đêm tối tăm, một sinh thể hốc hác trơ xương sườn chạy lang thang ngoài đường, kêu rên la hét. Dân chúng khiếp sợ. Có vài người để thức ăn ở ngoài cho con thú, nhưng nó không chịu ăn. Nếu con chó ma quỷ từng là ông quý tộc, thì lời nguyền rủa đã thành sự thật. Ông ấy đã quay về ám ngôi làng. Tuy nhiên, có một sự công bằng kinh tởm trong chuyện này, bởi vì ông ấy luôn ốm đói, y như đàn chó của ông từng bị ốm đói. Đến một lúc nào đó, dân làng không chịu nổi bỏ đi chỗ khác ở. Nếu con chó vẫn còn lang thang chỗ đó thì nó làm ma ám một nơi hoang tàn bỏ hoang.

– Em trai của bác vẽ tranh con chó à? – Hannibal hỏi.

– Em trai tôi không phải hoạ sĩ – Charles Niedland giải thích – Cậu ấy là một nhà điêu khắc nhưng cậu ấy có phác họa khi nghiên cứu thiết kế. Cậu ấy làm việc với thủy tinh và pha lê – đôi khi pha lê kết hợp với kim loại.

– Con chó Carpates là tác phẩm tuyệt đẹp – Fenton Prentice nói – Edward Niedland thực hiện tuyệt tác ấy đặc biệt cho tôi. Hoàn thành cách đây một tháng nhưng chưa giao. Edward Niedland có cuộc triển lãm về những tác phẩm mới nhất của mình tại Hành lang Maller, và cậu ấy muốn đưa vào đó con chó Carpates. Dĩ nhiên là tôi vui lòng để cậu ấy trưng bày. Vậy mà bây giờ mất hết rồi!

– Vậy là một bức tượng chó bằng thủy tinh – Bob khẳng định.

– Pha lê – ông Prentice chỉnh – pha lê và vàng.

– Pha lê là một loại thủy tinh – Charles Niedland nói rõ – nhưng một loại rất đặc biệt. Làm bằng thứ silic hảo hạng nhất, với hàm lượng oxyt chì rất cao, do đó nặng hơn và sáng hơn thủy tinh bình thường nhiều. Em trai tôi làm việc với thủy tinh – và pha lê – nóng đến nỗi gần như là chất lỏng. Cậu ấy tạo hình bằng công cụ, rồi nung nóng trở lại khi đã nguội, rồi tạo hình thêm nữa, nung nóng, tạo hình, cứ như thế cho đến khi có được hình thù như ý. Rồi cậu ấy sẽ hoàn chỉnh, chà và mài bằng axit. Khi xong rồi, con chó Carpates là một bức điêu khắc tuyệt vời. Mắt con chó được viền vàng, và có bọt vàng sùi ra ở mép. Trong truyền thuyết, người ta nói mắt con chó sáng chói lên.

– Có thể bác sẽ lấy lại được – Bob hy vọng nói – Một vật như thế sẽ rất khó bán.

– Sẽ bán được cho ai không có lương tâm và hiểu biết về công trình của Edward Niedland – Fenton Prentice nói – Cậu ấy còn trẻ quá… rất tài. Có người sẽ vui vẻ giao du với bọn trộm cướp để sỡ hữu được một tác phẩm của cậu ấy.

Hannibal nhìn khắp căn nhà giản dị.

– Chú ấy làm việc ở đây à? – Thám tử trưởng hỏi – Chú ấy phải cần một cái lò để làm việc với thủy tinh nóng chảy chứ?

– Em trai tôi có xưởng ở khu đông Los Angeles – Charles Niedland nói – Cậu ấy làm việc ở tại đó.

– Ở đây không có bức điêu khắc nào khác à? – Hannibal hỏi – Em của bác không giữ cái nào cho chính mình sao? Hay còn để ở xưởng?

– Edward có một bộ sưu tập nhỏ, tác phẩm của chính mình và của các nghệ nhân khác, giữ tại nhà ở đây. Tôi cho dọn mọi thứ đến một nơi an toàn hơn khi cậu ấy mất. Hoàn toàn do tình cờ mà con chó Carpates có ở đây khi tên trộm đột nhập vào.

Fenton Prentice thở dài.

– Triển lãm ở hành lang nghệ thuật của em tôi kết thúc cách đây vài ngày. Cậu ấy cũng đã mượn vài món của những chủ nhân khác, và tôi đã mang trả lại. Cuối giờ chiều hôm qua, tôi ghé qua đây, định giao con chó Carpates cho anh Fenton và soạn vài quyển sách của em tôi. Tôi đến đúng lúc anh Fenton đang chờ các cậu – anh ấy đã nói với tôi trước về các cậu trong ngày, khi tôi gọi để sắp xếp hẹn. Nên tôi để con chó Carpates lại, đi ra ngoài ăn một tí. Khi trở về, tôi nhìn qua cửa sổ thấy có kẻ lạ đang ở trong nhà. Tôi gọi cảnh sát ngay bằng điện thoại của hàng xóm.

– Anh Charles à, anh thật là bất cẩn – ông Prentice nói giọng hơi cay đắng.

– Kìa anh Fenton ơi, đừng cãi nhau nữa chứ – Charles Niedland trả lời – cứ cho là xui xẻo.

– Có ai biết rằng con chó sẽ được giao hôm qua không? – Hannibal hỏi.

Cả hai người đàn ông lắc đầu.

– Con chó Carpates có được bảo hiểm không? – Bob hỏi.

– Có, nhưng ích lợi gì khi nó không còn nữa? – Prentice đáp – Cũng… cũng y như bị mất bức Mona Lisa vậy! Người ta không thể nào được đền bù một vật như thế.

– Chắc là cảnh sát đã tìm thử dấu vân tay và các thứ khác? – Hannibal nói.

– Cảnh sát ở đây đến nửa đêm rắc bột dấu vân tay khắp mọi nơi – Charles Niedland trả lời – Dường như không tìm thấy gì cụ thể cả. Hiện cảnh sát đang kiểm tra hồ sơ về các tội phạm đã biết xem có tên nào chuyên trộm đồ mỹ nghệ hay không.

– Chắc chắn cảnh sát sẽ rà rất kỹ – Hannibal nói – cháu không nghĩ tụi cháu có thể làm gì hơn.

Ông Prentice gật đầu, chào Charles Niedland, rồi dẫn ba thám tử trở về lối đi sau nhà, vào sân tòa nhà ông ở. Bà Bortz có mặt ở đó, đang lặt lá khô trên cây. Ông Prentice làm như không thấy bà và đi lên lầu, cùng ba thám tử theo sau.

Khi đã vào căn hộ ông Prentice, Hannibal lấy hũ thuốc bôi ra và trình bày kế hoạch.

– Ngăn kéo bàn viết của bác có tay cầm bằng sứ – thám tử trưởng nói với ông Prentice – rất thích hợp cho mục đích này. Hoá chất này phản ứng với kim loại và có thể làm hỏng đồng hoặc thau nhưng không phương hại gì men sứ. Ta sẽ bôi tay cầm với thuốc này, rồi đi ra khỏi nhà. Nếu có ai đến trong khi bác đi vắng và mở tủ kéo, bàn viết thì kẻ đó sẽ bị dính những vết đen trên tay.

– Kẻ đột nhập có vẻ có khả năng đi lại cho dù có tôi hay không có tôi – Prentice nói – Ngoài ra, dường như nó còn không biết đến tường và cửa. Thì tại sao nó sẽ bận tâm đến ngăn kéo?

– Bác Prentice ơi, ít nhất ta cũng có thể thử xem sao – Hannibal nói – Bác nói tụi cháu rằng có lần bác về nhà và phát hiện ngăn kéo bác bị lục soát.

– Được rồi – Prentice nói – tôi muốn thử bất cứ thứ gì. Ta hãy bôi thuốc trên các ngăn kéo rồi ra ngoài kiếm gì ăn.

– Tuyệt quá! – Peter reo lên – Cháu đang đói bụng gần chết!

Hannibal bôi thứ thuốc thần tiên của mình lên các tay cầm bàn viết của ông Prentice. Sau đó Hannibal, Bob và Peter ra ngoài cùng ông Prentice, bước từ từ xuống cầu thang, nói chuyện lớn tiếng về địa điểm sẽ ăn. Sân vắng vẻ nhưng ngoài cổng mọi người gặp bà Bortz và chàng thanh niên gầy tên Sonny Elmquist. Cả hai đang nhìn về hướng nhà thờ.

Có một chiếc xe cứu thương đang đậu ngay cổng nhà thờ.

– Có chuyện gì xảy ra vậy? – Peter hỏi.

– Người bảo vệ nhà thờ – Elmquist nói – Anh ta bị thương! Cha xứ mới tìm thấy anh ta trên đài đồng ca!

Những Con Quỷ Sa Tăng Cô Đơn Chương 6: Hôn Lễ Của Ma Quỷ,

Từ nhỏ đến lớn tôi đã quen với sự cô đơn, nhưng tôi không quen với nỗi cô đơn trong đau khổ và sự ân hận. Trong nỗi cô đơn trước đây, tôi có thể tìm được rất nhiều việc để làm, nhưng giờ đây, đối với tôi tất cả đều trở thành gánh nặng và tội ác.

Sa-tăng 4

Tôi đã đi đến rất nhiều nước trên thế giới, nước Anh là một trong số rất ít đất nước tôi yêu thích, cảm giác mà nó đem lại cho mọi người không có kiếu con buôn như châu Mỹ, cũng không có sự lạnh lùng như châu Úc. Ở nước Anh, bốn mùa đều có mưa, không khí ở đó khiến cho con người cảm thấy ấm áp và dễ chịu. Khi ta ở Luân Đôn, cả cơ thể đều trở nên lười biếng.

Vừa xuống máy bay, đã bắt đầu những giọt mưa bay lất phất, nước mưa không hắt vào mặt mà bay lướt qua, trong lòng bỗng trào dâng cảm giác khoan khoái lạ thường. Trước khi lên máy bay, tôi vẫn ngờ rằng mình sẽ có tâm trạng rối bời bởi mớ bòng bong của đời sống tình cảm, nhưng giờ đây những điều phiền muộn đó đã hoàn toàn lùi xa. Tôi bỗng hiểu tại sao Lâm Lâm lại đến Anh quốc – đây thực sự là một nơi lý tưởng để quên lãng.

Trường đại học đó tiếp đón tôi rất nhiệt tình. Mấy vị giáo sư khoa Trung văn cùng tôi bàn việc hợp tác đều là những người thân quen với tôi và họ đều đã từng là học giả phỏng vấn tại Trung Quốc. Trong đó có một vị nữ giáo sư ngôn ngữ ngoài ba mươi tuổi, hồi ở Trung Quốc còn có tình cảm đặc biệt với tôi, lần này tôi cũng gặp lại cô. Tôi nhận thấy rằng cô dường như chẳng còn có cảm giác gì với tôi cả, bởi khi cô chào tôi, trông cô rất tự nhiên và chững chạc. Điều này lại khiến tôi có chút hứng thú đối với cô.

Mọi việc nhanh chóng bàn bạc, thương lượng xong xuôi. Thế nên tôi liền đi tìm Lâm Lâm theo địa chỉ cậu ghi cho tôi. Tiếng Anh của tôi rất khá, nên không gặp khó khăn gì trong việc hỏi đường. Đó là một ngôi nhà độc lập ở vùng ven thủ đô Luân Đôn. Rõ ràng những người sống ở vùng này đều là những người có địa vị hiển hách trong xã hội, bởi tôi gần như chẳng mất công sức gì đã có thể tìm thấy.

Từ đằng xa, tôi nhìn thấy một người phụ nữ Trung Quốc đậm người đang cắt tỉa bụi cây trong vườn và còn ngâm nga một mình. Cạnh cửa sổ của căn phòng ngủ thấy dáng ngồi nghiêng nghiêng của một chàng thanh niên dáng người mảnh dẻ, cậu đang ngồi đọc sách. Trên đùi cậu có một con mèo dáng vẻ kì lạ đang nằm ngủ một cách lười biếng – cậu con trai đó chính là Lâm Lâm.

Sự xuất hiện của tôi khiến cậu khá kinh ngạc. Cậu đứng thẳng dậy, đi về phía tôi. Chú mèo đó chợt bừng tỉnh khỏi giấc ngủ ngon, nó kêu vài tiếng bực bội rồi quay người nhảy lên nóc nhà.

Bác của Lâm Lâm – chính là người phụ nữ Trung Quốc tiếp đón tôi rất niềm nở. Bà nói, mỗi lần bà nhìn thấy đồng bào đều cảm thấy rất vui. Bà mời tôi vào trong phòng ở, tha thiết giữ tôi lại ăn cơm tối, tôi cũng không tiện từ chối, nên đành phải đồng ý.

Vậy là chỉ còn tôi và Lâm Lâm ở trong phòng.

“Cậu thật biết chọn địa điểm, chỗ này tuyệt lắm.” Tôi nói.

“Đối với tôi, nơi nào cũng thế cả thôi, chỉ cần không phải là Bắc Kinh. Thầy uống gì nhỉ?” Cậu lấy từ trong tủ lạnh ra hai chai bia tôi không biết tên. Vỏ chai làm rất tinh xảo. Tôi giơ tay ra nhận.

“Cậu định bao giờ quay về?” Tôi hỏi thẳng.

“Tôi cũng không rõ, có thể là vài ngày nữa sẽ về, cũng có thể cả đời sẽ sống luôn ở đây.” Cậu nói.

“Không sống ở Bắc Kinh để làm cậu học sinh giỏi của trường đại học danh tiếng, mà lại ở đây làm di dân bất hợp pháp sao?” tôi cười nói.

“Gần đây tôi mới nhận ra rằng, thực ra đối với tôi, người thân vô cùng quan trọng. Ở đây có người thân duy nhất trên đời của tôi, tôi ở lại cũng là điều hoàn toàn bình thường.” Khi nói, Lâm Lâm nhìn ra ngoài cửa sổ, sắc mặt vô cảm.

“Cậu có bao giờ nghĩ sẽ cho cậu ấy một cơ hội hay không?”

“Ngoài tôi ra anh ta còn có cha mẹ anh ta và một tá phụ nữ tình nguyện lên giường cùng anh ta. Nhưng còn tôi, tôi có gì chứ? Tôi chẳng có gì cả, tôi chỉ có mình tôi.” Giọng nói của Lâm Lâm pha chút bi thương.

“Nếu như cậu ta thực sự rất hối hận thì sao? Cậu có muốn biết bộ dạng của cậu ta hiện giờ hay không?”

“Thầy không nói thì tôi cũng biết, anh ta giờ đây chắc là rất thê thảm – Đó chỉ là bởi vì bao lâu nay anh ta quen dựa vào tôi trên phương diện tình cảm. Thích phụ nữ, lãng quên tôi, đối với anh ta, đó chỉ là vấn đề thời gian. Sự khác biệt lớn nhất giữa chúng tôi chính là: Tôi là một kẻ đồng tính thuần túy, nhưng anh ta thì không phải. Mọi chuyện giữa chúng tôi vốn chẳng thể coi là tình yêu.”

“Lẽ nào tình yêu lại không kèm theo trách nhiệm gì sao? Anh ta đã phản bội, phản bội. Nhưng điều đáng sợ là tất cả những điều này đều do một tay tôi tạo nên.” Tâm trạng của Lâm Lâm bỗng bắt đầu trở nên kích động.

“Chớ nên quên rằng, cậu yêu là bình thường. Anh ta cũng có tình cảm và những ham muốn, anh ta cũng có thể bị dụ dỗ. Giờ thì anh ta vô cùng hối hận, cả ngày say xỉn. Thậm chí anh ta còn nhờ tôi đến Anh khuyên cậu trở về – Lẽ nào tất cả những điều này đều không khiến cậu có chút sự thương xót nào sao?”

“Anh ấy bảo thầy đến đây sao?” Lâm Lâm rướn lông mày, “Anh ấy nhờ thầy nói gì với em?”

“Cậu ấy nói, cậu ấy yêu em”

Nghe câu nói này, Lâm Lâm ngẩng đầu lên cười vang, tiếng cười vô cùng kì lạ. Tôi chú ý thấy nơi khóe mắt cậu có thứ gì đó ánh lên lấp lánh.

Tối đó, sau khi ăn tối xong, tôi liền chào từ biệt. Trước khi đi, tôi nói với Lâm Lâm, hy vọng cậu có thể cho Bắc Kinh một cơ hội. Cậu chỉ mỉm cười không nói. Cậu bé này thay đổi nhiều quá, và tôi không tài nào nắm bắt được suy nghĩ của cậu. Thậm chí tôi còn nghĩ, liệu có phải mọi việc cứ thế kết thúc hay không đây?

Hôm sau tôi liền đáp máy bay về Bắc Kinh. Mặc dù đã hoàn thành xong công việc, nhưng đối với tôi, chuyến đi Luân Đôn lần này gần như không thu hoạch được gì, cho nên tâm trạng vô cùng tồi tệ. Vừa xuống máy báy, đi ra khỏi khoang máy, tôi đã nhìn thấy Thư Hoa và con trai đang đợi tôi ở đó. Tôi thực sự rất ngạc nhiên – bao năm nay, cô ấy chưa bao giờ đến sân bay hay ga tàu đón tôi. Nhìn thấy tôi, cô tươi cười rạng rỡ lao đến, đón lấy hành lý trong tay tôi.

“Sao em lại đến đây?” Tôi hỏi cô.

“Em đã gọi điện thoại đến khoa anh, họ nói hôm nay anh sẽ về. Vừa đúng hôm nay con trai được nghỉ học, nên em đưa con đến đón anh. Anh đói rồi phải không? Em đã chuẩn bị bữa tối ở nhà, chúng ta về nhà nào.”

Nói xong, cô khoác tay tôi, kéo tôi lên xe taxi.

Cả dọc đường đi, tôi không biết nói gì, tôi ngồi ghế bên cạnh người tài xế, liên tục hút thuốc, con trai và Thư Hoa ngồi ở hàng ghế sau. Thư Hoa trách:

“Anh hút ít thôi, đã ngần này tuổi rồi.”

Nghe lời vợ, tôi dập luôn điếu thuốc đang hút dở. Cưới nhau bao năm nay, chúng tôi rất ít khi trò chuyện, cho nên tôi thường luôn nghe lời cô.

Trở về nhà, tôi nhìn thấy trên bàn ăn đã bày sẵn bát đũa, Thư Hoa bận bịu một lúc trong bếp, rồi trên bàn ăn nhanh chóng xuất hiện một bữa cơm tối thịnh soạn. Tôi không biết nên nói gì, nhưng trong lòng cảm thấy thật ấm áp. Thứ cảm giác này dường như trước đây chưa từng có.

Trong bữa cơm, con trai luôn miệng kể mọi chuyện thú vị xảy ra trong trường học, còn tôi và Thư Hoa chỉ ngồi lắng nghe và cười. Bữa cơm đó chúng tôi ăn rất lâu. Hôm đó, có vẻ như Thư Hoa cũng rất hưng phấn, cô còn uống mấy ly rượu vang. Thường ngày gần như cô không bao giờ uống rượu, do đó sau khi uống ba ly rượu, khuôn mặt cô bắt đầu hồng hào thật gợi cảm.

Sau bữa tối, tôi ngồi chơi với con trai một lúc, rồi nó trở về phòng riêng đi ngủ. Trong phòng chỉ còn lại tôi và Thư Hoa.

Thư Hoa không nói gì, mà dựa nhẹ đầu vào vai tôi, ngón tay cô nhẹ nhàng vuốt qua ngực tôi. Ngay lập tức, niềm ham muốn trong tôi chợt trỗi dậy. Tôi không rõ tại sao, Thư Hoa rõ ràng không phải là người phụ nữ khéo léo về chuyện phòng the, nhưng mỗi khi cô dựa vào tôi, tôi đều cảm thấy hưng phấn cực độ. Cô ấy là vợ tôi, nhưng mỗi lần quan hệ với cô, tôi đều thấy vô cùng mới lạ, hấp dẫn.

Bàn tay cô liên tục vuốt ve ngực tôi, rồi dần dần đi từ phần ngực xuống bụng dưới, tiếp đến là vị trí nhạy cảm giữa hai đùi. Mặc dù cách một lớp vải quần, nhưng tôi vẫn có thể cảm thấy được độ nóng bỏng của đôi bàn tay búp măng nuột nà của cô. Cuối cùng tôi hoàn toàn bị kích thích. Tôi ôm cô lên, đặt cô xuống giường, sau đó bắt đầu hôn khắp cơ thể cô: trán cô, đôi môi cô, chiếc cổ trắng ngần và khuôn ngực đầy đặn.

Cô ôm lấy đầu tôi và miệng bắt đầu rên. Tôi thích nghe tiếng cô rên nên tôi tiếp tục hôn lên phần bụng dưới của cô, thậm chí tôi có thể cảm nhận được vị trí nhạy cảm của cô bắt đầu ẩm ướt. Đôi chân cô cũng đang run rẩy.

Trong lòng muốn mập hợp cùng cô, nên vội vàng lột sạch quần áo cô. Nhưng khi toàn bộ cơ thể cô trần trụi trước mắt tôi, tôi lại nảy sinh ảo giác: Thư Hoa trước mắt tôi đây biến thành một người con gái, thân thể cô ấy mặc dù không đầy đặn như Thư Hoa, nhưng lại tràn đầy sức sống của tuổi trẻ. Cơ thể cô ấy cũng đang uốn éo, run rẩy, nhưng trên gương mặt cô thì đang tràn nước mắt. Cô ấy là một người phụ nữ khác trong cuộc đời tôi. Cô ấy chính là cô thiếu nữ đã làm cho tôi cảm nhận được niềm hoan lạc lớn nhất của chốn nhân gian. Bỗng chốc đầu óc tôi trở nên trống rỗng. Tôi không biết mình có nên tiếp tục nữa hay không. Chính lúc đó, giọng nói của Thư Hoa đã thức tỉnh tôi: “Anh yêu, em muốn …”

Thế là không chần chừ gì nữa, tôi tiến vào cơ thể cô. Tôi nằm trên người cô và thở dốc, tận hưởng những khoái cảm mà cơ thể cô đem đến cho tôi. Nhưng cơ thể và khuôn mặt giàn giụa nước mắt của cô gái trẻ trong ảo giác kia vẫn lởn vởn trong trí óc tôi, không tài nào xua đi được.

Không biết do ảo giác hay do tác dụng của rượu, lần quan hệ này diễn ra rất lâu. Cuối cùng, cả tôi và Thư Hoa đều đạt đến cao trào, và chúng tôi cũng đều mệt mỏi rã rời.

Tôi rệu rã trườn khỏi người Thư Hoa, cũng chẳng buồn mặc đồ lót, cứ thế dựa đầu vào thành giường, châm một điếu thuốc. Trong bóng tối lờ mờ, tôi nhìn thấy cơ quan sinh dục của tôi nằm thẳng đơ ở đó, vô cùng cô độc.

Thư Hoa cũng vẫn chưa ngủ, cô dựa vào người tôi, ôm ngang lưng tôi, hơi thở đều đều.

Tôi hiểu rằng có lẽ đã đến lúc nói ra sự thật. Và tôi ngồi thẳng dậy, nói: “Có một việc anh cần phải nói với em.”

“Anh không cần nói đâu, cho dù trước đây anh đã làm những gì, em đều không trách anh”. Thư Hoa nói.

“Nhưng việc này …”

“Trước đây tại em không làm tốt vai trò của mình, em cũng có trách nhiệm. Sau này chúng ta sẽ sống thật vui vẻ, được không anh?” Cô ngắt lời tôi.

Nói xong, cô tắt đèn, nói: “Anh ngủ đi, ngày mai còn phải đi làm sớm”.

Xong cô liền nằm xuống và ngủ luôn. Tôi thần người một lúc lâu trong đêm tối, bị những câu nói của cô tác động mạnh mẽ. Tôi suy ngẫm mãi về những lời cô vừa nói.

Có lẽ Thư Hoa đã đoán ra được, đây là sự giải thích duy nhất. Sự việc trở nên ngày càng phức tạp.

Sa -tăng 1

Anh quốc là một đất nước gần như không có bốn mùa rõ rệt. Cả bốn mùa trong năm dường như đều có mưa, mưa không to nhưng triền miên dai dẳng. Có lẽ chính vì điều này mà tôi cảm thấy nó thật lãng mạn.

Tôi thích giương ô lúc trời mưa, ngồi trong sân nhìn dòng người qua lại trên con đường vùng ngoại ô. Những người đàn ông Anh quốc không hề giống những ” thân sĩ” như trong sự hình dung, bởi tôi thường xuyên nhìn thấy những đôi nam nữ thanh niên ôm hôn cuồng nhiệt dưới mưa. Một chàng trai trẻ có gương mặt thanh tú để chút râu quai nón đang hôn say sưa đôi môi của cô gái, không hề chú ý tới sự có mặt của tôi.

Sâu trong tâm khảm, tôi thực sự rất ngưỡng mộ họ. Tôi chưa bao giờ có được thứ tình yêu có thể được coi là ” lãng mạn”. Thậm chí tôi còn không biết rõ thứ mà tôi đã từng có rốt cuộc có được tính là tình yêu hay không.

Sau nụ hôn say đắm, chàng trai năm tay cô gái, cả hai cùng bước đi xa dần. Họ đi đến phía sau của tòa biệt thự ấm áp và yên tĩnh. Chắc chắn sẽ làm tình với nhau bên cạnh bếp lửa. Sau đó họ sẽ thề non hẹn biển, quyết không bao giờ rời bỏ nhau. Họ vẫn còn rất trẻ, họ vốn không biết rõ mình đang nói những gì – có thể vài ba năm hoặc vài ba tháng sau, một người trong số họ sẽ bĩ tổn thương và phải đi đến một miền đất khác.

Bác tôi thấy tôi suốt ngày ngồi nhàn rỗi, bèn nói cho tôi biết, cách nhà tôi không xa có một học viện cộng đồng, trong đó có mở rất nhiều các giáo trình môn học. Tôi thấy rằng, vào lúc này học một vài thứ có thể sẽ khá thú vị đây, thế nên tôi đến ngôi trường đó ngắm nghía một chút. Có rất nhiều loại giáo trình môn học, bao gôm văn học, hý kịch, ngoại ngữ, karate, thậm chí còn có bà bầu vác cái bụng to kềnh càng đến học phương pháp giảm đau khi sinh. Tôi chọn lựa mãi, phát hiện ra mình chỉ duy nhất có chút hứng thú với hý kịch, thế nên đăng ký học môn này.

Thầy giáo dạy môn hý kịch là một vị giáo sư đại học già đã nghĩ hưu, chưng ngoài sáu mươi tuổi, tóc hoa râm, nói giọng Anh chuẩn mực, Hồi học ở trường, tôi đã quen nghe giáo viên giảng bài bằng tiếng Anh – Mỹ, nên buổi học đầu tiên, tôi dường như không hiểu được gì cả. Chỉ thoáng nhận ra thầy đang giải về hý kịch Hy Lạp cổ, thầy nhắc đến một số cái tên nghe kì quặc cổ quái. Tôi đoán chắc tên kiểu như Aristophanes. Khi thầy giáo đang giảng bài say sưa, tôi tùy hứng luôn tay viết những hình thù kì quái. Cạnh chỗ tôi ngồi phía bên trái có một cậu con trai tóc vàng, cậu ta liên tục nhìn sang chỗ tôi, tôi nghĩ chắc cậu cảm thấy kì lạ bởi chưa bao giờ cậu nhìn thấy một người da vàng thực sự.

Tôi dần dần thích ứng với tiếng Anh chuẩn, những bài giảng sau này ngày càng trở nên thú vị. Dần dần thầy giảng đến Shakespeare, giảng đến Moliere1 và Denis2. Mặc dù trước đây tôi đã được dạy có hệ thống về hý kịch, nhưng giờ đây vẫn thấy vô cùng hấp dẫn

Trong khoảng thời gian sống ở Anh, ít ra tôi cũng đã quen một người bạn, đó chính là Bobby. Bác tôi đã đặt cái tên này, bà nói chồng bà có một đứa cháu trai tên Bobby, đứa trẻ đó rất đáng yêu, nên bà liền lấy cái tên này để đặt tên cho con vật cưng của mình. Bà không biết, thực ra Bobby là tên nhân vật nam chính trong A home at the Michael Cunningham – Anh ta là một kẻ lưỡng tính-3. tha thiết yêu âm nhạc và cuộc sống.

Chú mèo Bobby tuy có được một cái tên đáng yêu, nhưng tính cách của nó không vì thế mà đáng yêu thêm chút nào. Nó rất ngoan cường, đôi lúc thậm chí còn rất thanh cao. Khi nó không vui. Nó sẽ nhảy lên người tôi, chà chà bộ lông vào mặt tôi. Nếu như tôi có thái độ khó chịu, nó sẽ vụt chạy đi ngay và sẽ không thêm để ý dn961 tôi trong một khoảng thời gian dài. Có lẽ đây là tính cách đặc trưng của giống mèo quyền quý.

Nhưng Bobby luôn đối xử rất tốt với tôi, nó thích nô đùa trong phòng tôi và ngủ luôn trên bụng tôi. Dần dần nó cũng tuân theo quy luật thời gian biểu của tôi. Buổi tối, khi tôi lên mạng, nó ngoan ngoãn nắm ngáy o o trên đùi tôi. Trước đây tôi chưa từng thân mật với con vật nào, có lẽ vì vậy mà Bobby cho rằng tôi không giống những người khác.

Buổi chiều tà, khi tôi đi dạo, Bobby thường đi theo, lúc thì lao nhanh trước mặt tôi, lúc thì lại đi chậm rề rề sau lưng tôi. Thậm chí có những lúc tôi thấy Bobby giông như một con chó. Trước đây tôi cũng không biết rốt cuộc là mình thích chó hơn hay thích mèo hơn, nhưng giờ đây tôi đã có thể khẳng định được. Tôi thích con mèo giống chó, hoặc chó giống mèo, hoặc là một loại động vật lưỡng tính giữa chó với mèo. Sở thích này của tôi cũng giống như xu hướng tình của dục của tôi, mong muội, hỗn tạp.

Một hôm,trong khi tôi và Bobby đi dạo dưới mưa, nó đã bị dính nước mưa và tối đo, nó bị ốm. Nó không cỏn tình thân để nhảy nhót như thương ngày nữa, nó uể oải nằm yên trong ổ. Hai con mắt to trông cũng không còn lấp lánh mà đờ đẫn như buồn ngủ.

” nó thương xuyên bị cảm, không sao đâu”. Bác tôi cười an ủi tôi. Bà bón thước cho Bobby rất thành thục, rồi đắp chăn cho nó, đặt nó xuống cạnh bếp lò.

” ngủ một giấc là khỏi ngay thôi”. Bà nói.

Tối đó, tôi không về phòng ngủ, tôi ngồi cùng nó cạnh bếp lò suốt cả đêm. Bobby ngủ rất ngon,tôi vuốt long trên lưng nó, hát cho nó nghe. Nữa đêm, không ngờ Bobby lảo đảo bò dậy, gắng gượng trèo lên đùi toi, sau đó, rúc đàu vào tôi ngủ thiếp đi. Thế là tôi không dám nhúc nhích động đậy, sợ đánh thức nó. Cả đêm chúng tôi cứ ngủ như thế. Sáng sớm hôm sau. Khi tôi tỉnh giấc, phát hiện ra Bobby đã khỏa mạnh như thường. Nó đã tỉnh dậy từ lâu, nhưng nó sợ đánh thức tôi, nên cứ nằm rạp trên đầu gối tôi. Vừa nhìn thấy tôi tỉnh dẫy, nó vô cùng mừng rỡ. Nó chà lấy chà để cái đầu vào áo tôi, sau đó chạy đi ăn.

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được tâm trạng vui vẻ của mình khi những thứ mình yêu thương được khỏe mạnh trở lại, có người nói, khi ai đó quan tâm đến niềm vui của một người hay động vật vượt qua cả niềm vui của bản thân mình thì có nghĩa là anh ta thực sự đã yêu người đó hay còn vật đó. Tôi và Bobby cũng quan tâm đến nhau, có lẽ chúng tôi đều không nhận ra được điều đó. Và tôi tự nhiên nghĩ, không biết giữa tôi và anh, ai là người quan tâm đến ai hơn đây? Sự ra đi của tôi rốt cuộc có thể khiến anh đau đớn đến nhường nào? Chia tay liệu có thể thực sự khiến chúng tôi vui vẻ trở lại hay không?

Một buổi lên lớp hý kịch, thấy giáo giảng về Eugene O’Neill-4. Trước đây tôi đã từng nghe tên người này, nhưng tôi không thích ông ta chút nào, bởi ông ta không phải là một nhà viết kịch thuần túy, ông ta quá thương mại hóa. Hôm đó, trong gio82 học, thầy giáo đã bật cho chúng tôi xem vở kịch Anna Chiristiel, nghe nói vở kịch này rất nổi tiếng, hôn nữa còn đoạt giải Nô – Ben. Nội dung kể về quá trình biến đổi của một người phụ nữ thuần hậu, lương thiên, Anna là con gái của một thuyền viên. Cha cô lãnh đênh trên biển quanh năm, nên đã gửi cô cho nhà họ hàng, trong gia đình người họ hàng đó, cô đã bị anh họ cưỡng hiếp, sau đó cô đã đi vào con đường sa đọa. Cô hút thước, cô lả lơi với những kẻ tìm hoa nghẹo nguyệt trong quán rượu. Sau đó cô thực sự yêu một người, nhưng người đó lại không thể tha thứ cho quá khứ của cô. Thế là cô mặt sức nhiếc móc cha mình và cả người đàn ông cô yêu thương. Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm dường như là lên án sự bức hại của xã hội nam quyền đối với phụ nữ, nhưng tôi chỉ nhận thấy được quá khứ đen tối của cô mả bỏ qua bản chất lương thiện của cô. Và sự sa đọa của cô lẽ nào lại chẳng phải là một hình thức báo thù đối với nhựng kẻ làm hại cô?

Hôm đó, sau khi tan học, chàng trai tóc vàng thường nhìn trộm tôi đã đi đến trước mặt tôi, mời tôi đi uống cà phê với cậu. Ánh mắt cậu rất chân thành, tôi cảm thấy không có lý do gì để từ chối, nên đồng ý.

Cậu dẫn tôi đến một quán cà phê khung cảnh rất thanh tĩnh. Tôi gọi một cốc Decaf. Giọng điệu, ngôn ngữ của cậu rất nho nhã, hơn nữa còn khá khách sáo. Cậu nói cậu nhận được ra tôi cũng là người đồng tính và hy vọng có thể trổ thành bạn của tôi, nói xong, cậu còn tiện thể khen gợi tôi thật biết cách phối hợp quần áo.

Thực lòng, tôi không hiểu được chữ ” bạn” trong lời nói của cậu là có ý gì. Đàn ông anh quốc thường thể hiện chút giả tạo bề ngoài, tôi không biết làm thế nào mà cậu ta nhận ra tôi là người đồng tính. Thâm chí tôi con nghi ngờ có lẽ do hành vi nào đó của tôi co xu hướng nữ tính hóa, nhưng cậu ta phủ nhận, cậu nói chính là tôi có khí chất của người đồng tính. Tôi cũng không muốn hỏi thật tỉ mỉ, nên tôi chỉ mỉm cười và gật đầu, tôi biết có một số người có khả năng nhìn thấy xu hướng tình dục của người khác.

Khi chia tay, cậu đưa cho tôi số điện thoại của cậu, còn lịch sự hôn lên trán tôi một cái. tôi cảm nhận được môi cậu rất mềm mại, nhưng lại rất mạnh mẽ. Lúc đó, tim tôi đập rộn ràng. Dường như cậu nhận ra hơi thở của tôi trở nên gấp gáp hơn, nên cậu mạnh dạn nâng cằm tôi lên, hôn lên đôi môi tôi.

Đó la một nụ hôn sâu. Tôi vốn muốn đẩy cậu ra, nhưng tôi không tài nào cưỡng lại cảm giác tuyệt diệu đó, thế nên bèn nhắm mắt lại, tận hưởng nụ hôn của cậu con trai ngoại quốc. Nhưng khi tôi vừa nhắm mắt lại, trong não tôi bỗng xuất hiện gương mặt một người đàn ông Trung Quốc – tôi nhìn thấy khóe mắt anh đang nhỏ lệ, nhìn tôi đầy xót xa đâu đớn. Tôi có cảm giác trái tim tôi sắp nát tan. Rồi tôi đẩy mạnh cậu con trai trước mặt ra.

” sao vậy?” cậu dịu dàng hỏi.

” không có gì, tôi muốn về nhà”. Tôi cúi đầu nói. Tôi không muốn nhìn cậu thêm nữa

” nhớ liên lạc với tôi nhé. Tôi hy vọng mối quan hệ giữa chúng ta sẽ tiến sâu hơn nữa. Tôi thích cậu, cậu là một chàng trai phương Đông có sức hấp dẫn lớn”. Cậu ta vẫn luôn lịch sự.

Tôi đi thẳng, không quay đầu lại.

Trên đường trổ về, trán tôi toát mồ hôi lạnh, tôi cứ nghĩ mãi, thì ra bị dụ dỗ lại đơn giản đến như vậy.

Sự việc lần này khiến tôi hoài nghi về niềm tin kiên định trước đây của mình: nếu như anh ấy không phải là người phản bội trước, vậy thì nhất định sẽ là tội. Lẽ nào trong một mối quan hệ phải có người phản bội sao?

Tối đó, tôi mở hòm thư điện tử của mình, không ngờ nhận được một bức E-mail của anh. Nội dung thư vô cùng đơn giản:

” Lâm Lâm! Tháng sau tôi kết hôn. Chúc cậu cả đời hạnh phúc”

Tôi ngồi ngẩn người trước màn hình hồi lâu, những kí tự nhấp nháy trên màn hình như những con virút đang nhảy múa, che khuất tầm nhìn của tôi. Trong tri` óc tôi cứ luẩn quẩn mãi câu hỏi: Mọi việc kết thúc như vậy sao?

1- Moliere, tên thật là Jean Baptiste Poquelin (1622 – 1673), diễn viên, nhà viết kịch nổi tiếng người pháp

2- Diderot Denis ( 1713 – 1784): nhà triết học chủ nghĩa duy vật người pháp

3- Bi***ual: có thể yêu cả người đồng giới và người khác giới

4- Eugene O’Neill ( 1888- 1952): nhà viết kịch nổi tiếng người mỹ

Sa -tăng 2

Không biết từ bao giờ, việc mua giày trở thành sở thích của tôi, tôi thích ngắm nhìn những đôi giày đắt giá bày ở trung tâm thương mai Xi-dan hay quảng trường thương mại Thời đại. Tôi có đôi mắt cá chân hoàn mỹ, nên mỗi lần tôi thử đi các đôi giầy đế nhỏ, luôn có cảm giác như đang bay bổng. Khi tôi ôm những đôi giày đắt giá đi ra khỏi cửa lớn khu trung tâm thương mai, tôi có thể nhìn thấy ánh mắt ngưỡng mộ và ganh tị của những của những của những người phụ nữ đi lướt qua tôi- Đây chính là điều tôi khao khát. Tôi nhớ hình như có một nhà văn đã viết như sau: nào, để chúng tôi khiến họ thự sự ganh tị. Giờ tôi mới được trải nghiệm cảm giác được ngưởi khác ganh ti tuyệt vời đến nhường nào.

Vào này sinh nhật năm nay của tôi, tôi nhận được qua cha tôi gửi từ nước ngoài, là một chiếc vòng tay Na Uy. Vòng bằng bạch kim, bên trên khảm những hạt ngọc nhỏ xíu. Năm nào cha cũng gửi quà sinh nhật cho tôi, và đậy cũng chính là lúc tâm trạng tôi vui nhất trong năm. Nhưng sinh nhật năm nay, tội lại đâu khổ. Bởi tôi nhận được tin, đêm hôm qua, một nam ca sĩ tôi vô cùng yêu thích đã nhảy lầu tự sát.

Không phải tội thực sự rất yêu thích ca khúc của anh – giọng của anh thút thít, có cảm giác rất mơ hồ, không phải loại tôi yêu thích. Nhưng tôi thích phong cách sống của anh, anh sống rất thuần túy, ít ra anh chưa bao giờ giấu giếm những thứ thuộc về mình, bao gồm xu hướng tình dục của anh – Bao năm nay, anh vẫn thản nhiên thừa nhận rằng mình là một kẻ đồng tính, hơn nữa còn công khai người bạn trai đã yêu thương gắn bó với anh suốt bảy năm.

Tôi không biết tại sao anh lại lựa chọn cách nhảy lầu tự sát để kết thúc sinh mệnh của mình, bởi lúc sinh thời, anh dường như là một con người hoàn mĩ – Anh theo đuổi bề ngoài hoàn mĩ của mỉnh, nhưng với cú nhảy này, mọi thứ đều trở nên nát bét hết cả, thực là phản tác dung. Nguyên nhân dẫn đến việc tự sát không được làm rõ, nhưng từ trong bản di chúc của anh, có người phân tích rằng, do anh không thể chọn lựa được mối tình cũ mới, thế nên anh quyết định chẳng chọn lựa gì nữa, tự giải thoát lấy riêng mình.

Tôi luôn nghĩ rằng nhưng người đàn ông đồng tính đều có khi chất theo đuổi sự hoàn mĩ: Lâm Lâm đi Anh vì bị người yêu mình phản bội, anh chàng ngôi sao này không tiếc sinh mệnh của mình chỉ vì sự xao xuyện bất định của minh. Vậy còn người đàn ông thuộc về tôi thì sao đây? Anh ta không bao giờ vì bất cứ ai mà kết thúc sinh mạng của mình, anh luôn tin tưởng vào nguyên tắc của anh – Anh cho rằng mình là một người đàn ông co trách nhiệm với hai người phụ nữ lại chính là sự vô trách nhiệm nhất đối với chính bản thân anh.

Thế nên suốt những ngày sau đó, cả ngày tôi ngồi nghe các ca khúc của anh chàng ca sĩ đã khuất ấy, dường như muốn nghe hết cả cuộc đời anh chỉ trong vài ngày. Giờ đây tôi mới nhận rằng, nỗi ham cuộc sống của một con người thực ra phong phú hơn nhiều so với sự tưởng tượng.

Bị màn đem xua đuổi, bị sự cô độc thiêu đốt

Anh cũng chưa từng khao khát như lúc này

Sống trong niềm thương nhớ của em

Anh mới cảm nhận được mình thực sự đang sống

Anh được tình yêu của em dung túng

Giữa bầu trời mờ sáng, anh tìm lại được tự do

Cơ thể em chiếm giữ trái tim anh

Như thể được trở lại điểm khởi đầu cuộc sống.

Thời gian này, đời sống tình dục của tội và anh ngày càng ít. Tôi lờ mờ cảm nhận được mối quan hệ giữa anh và vợ anh đã được cải thiện. Mặc dù tội đã từng uy hiếp anh, buộc anh phải ly hôn với vợ rồi cưới tôi, nhưng gio782 đây tôi thấy rằng, làm như vậy thật chẳng có chút căn cứ gì cả. Trước đây, khi tôi quyến rũ anh lên giường, tôi không hề yêu cầu anh có trách nhiệm gì đối với tôi, bây giờ mà nuốt lời sẽ là một hành động thiếu lý trí. Thực lòng, tôi cũng hơi lo sợ một ngay nào đó, vì việc này mà anh tự sát – trước đây anh không có gan, nhưng giờ đây đã có người làm như vậy, anh có thể noi gương lắm chứ.

Một hôm, buổi trưa, tôi vừ ngủ dậy, đang kẽ lông mày, định đi dạo phố. Đúng lúc đó, điện thoại đổ chương.

Điện thoại bàn chỗ tôi ổ rất ít khi đổ chương, anh vốn không thể gọi điện thoãi cho tôi trong giờ làm việc, nên tôi đoán chắc là mẹ tôi gọi – từ khi trở lại Thượng Hải, bà gọi cho tôi nhiều hơn hẳn trước đây, lần nào cũng hỏi tôi về việc ly hôn của anh. mẹ tôi là một người phụ nữ độc đoán, nuh7ng tôi thực sự rất cám ơn bà về sự việc này, bởi củng với sự thay đổi tư duy của tôi, chúng tôi bỗng trở thành chiến hữu cùng chung mặt trận.

Thế nên tôi lươi biếng nhấc điện thoại lên.

Tôi vô cùng bất ngờ, tiếng một người phụ nữ vang lên trong điện thoại. Ginog5 cô ta không hề ngọt ngào nhưng lại rất dịu dàng.

” tôi là Thư Hoa. Tôi rất muốn nói chuyện với cô” giọng cô rất bình tĩnh. Thì ra là vợ của anh.

Ở đầu dây bên này, tôi do dự hồi lâu,không biết nên trả lời ra sao. Tội không hề ngờ tới sẽ xảy ra việc này – người phụ nữ sống trong thế giới cân bằng phía bên kia của tôi cuối cùng cũng vẫn cứ tìm đến tôi.

‘ Alô, cô vẫn nghe đấy chứ?” Đầu bẹn kia điện thoại nói. Giọng nói vẫn dịu dàng như trước.

” À, chào chị. Chị muốn nói gì với tôi?” Tôi hỏi.

” không có gì, hay chúng ta gap75 nhau đi? có một số việc. Phải gặp nhau mới nói rõ ràng được.” Chị ta nói.

Tôi đồng ý, và hẹn chị tại một quán café gần khu nhà tôi.

Sau khi gác máy, lòng tôi cứ thấp thỏm không yên. Tôi phải đối diện với chị thế nào đây? Chị ta sẽ có phản ứng gì khi gặp tôi? Chị sẽ phẫn nộ hay đau buồn? Có lẽ chị sẽ phẫn nộ, vì tôi đã phà vỡ gia đĩnh chị, tôi đã ngủ với chồng chị suốt hai năm nay, sau đó ép anh ly dị vợ. Tôi cảm thấy bàn tay vẽ lông mày của mình đã bắt đầu run rẩy.

Người phụ nữ này là người tôi sợ gặp nhất trên đởi, thế nhưng rốt cuộ vẫn không thể tránh được.

Tôi cố trang điểm thật nẹ nhàng, thanh tú, như vậy có thể khiến chị không quá ác cảm với tôi. Đúng trước mặt chị, tôi là kẻ có tội.

Nữa giờ đồng hồ sau, tôi đến quán café đã hẹn còn nữa tiếng mới đến giờ hẹn, tôi cho rằng cẩn phải để mình thích ứng với nơi trò chuyện. Tôi biết chắc chắn đây là một cuộc nói chuyện chẳng vui vẻ gì, nên tôi cần có thời gian để thư giãn.

Nữa tiếng sau, chị ta đến. Trước đây rất lâu, tôi đã từng gặp chị một lần, cảm thấy chị đã thay đổi nhiều so với lần trước. Tôi nhận thấy kiểu tóc của chị rất đẹp, hẳn chị đã bỏ nhiều công sức vào đó, và chị trang điểm thật nhẹ nhàng. Vóc dáng chị hơi đầy đặn hơn chút, nhưng rất cân đối, phong thái sang trọng. Điểm đặc biệt cuốn hút chính là chiếc nhẫn hột xoàn trên ngón tay đeo nhẫn của chị – ánh sáng chói lòa của nó khiến tôi cảm thấy bóng dáng mình mờ nhạt.

” thật xin lỗi, đã đẻ cô đợi lâu. Tôi không so được với thanh niên các cô, rất ít khi lui tới những chỗ này, nên phải tìm mãi mới thấy.” Chị ta mỉm cười ngồi xuống ghế đối diện.

Chị thực là một người phụ nữ xinh đẹp, đẹp đến độ không thể chê vào đâu được. Nụ cười của chị tràn đầy sự khoan dung và thân thiện, không hề có chút ẩn ý oán hận gì. Đối với tôi, điều này là một sự giễu cợt tột cùng, tôi đã phá hoại gia đình chị, thế mà chị lại có thể lấy phong thái của người thắng cuộc cúi xuống nhìn tôi.

” tôi biết chị muốn nói gì với tôi. Chị không cần khách khí, chị cứ nói thẳng ra” tôi nói.

Nhìn thẳng vào chị là một sự giày vò đối với tôi., tôi muốn mọi việc nhanh chóng kết thúc.

” đừng vội, chúng ta hãy gọi đồ uống đã. Bình thường tôi chẳng mấy khi uống café, sợ ảnh hưởng tới giấc ngủ. Tôi sẽ gọi nước hoa quả.” Chị vẫn mỉm cười. Chị đứng dậy, cởi áo khoác, rồi khoác lên vai tựa ghế. Chị mặt một chiếc áo cách len mài cánh sen, ” thời tiết ở Bắc Kinh ngày càng kỳ quặc, chưa đến hẻ mà đã nóng thế này.”

Tôi gọi tiếp tân, gọi hai cốc hoa quả ép.

” tôi biết hôm nay hẹn cô ra đây quả là hơi đường đột, nhưng thực sự tôi rất muốn gặp cô. Giờ đã gặp rồi, cô thực là một cô gái đáng yêu, chả trách mà chồng tôi lại thích cô.” Chị ta nòi. Trong giọng dnoi1 không hề cò sự thù hằn, chỉ có sự khen ngợi chân thành.

” anh ấy đã nói hết cho chị mọi chuyện giữa chúng tôi rồi phải không? Chị biết hết cả rồi chứ? ” tôi hỏi.

” tôi không biết nhiều, vả lại, cũng không phải anh ấy nói với tôi.” Thư Hoa nói.

” vậy thì…chị có ý gì? ” tôi hỏi.

Chị cười, uong6` một ngụm nước hoa quả ép. Rồi nói: ” hãy nói cho tôi biết, cô có yêu anh ấy không?”

Tôi thật không thể ngờ tới chị sẽ hỏi tôi câu này. Câu hỏi này tôi cũng đạ nghĩ khá nhiều lần, nhưng chưa lần nào có được đáp án chính xác.

” tôi cũng không biết.” Tôi nói thật, ” nhưng tôi vốn không hề muốn làm tổn thương chị và phá hoại gia định anh chị, tôi chỉ làm mọi việc theo cảm giác của mình.”

” Tôi biết, cô không phải là một cô gái xấu, cho nên tôi không hề trách cô, Lúc bằng tầm tuổi cô, tôi cũng từng thích người đàn ông đã có vợ, nhưng tôi không có được dũng khí như cô.” Chị nói.

” chị có yêu anh ấy không?” Tôi chợt hỏi chị cậu hỏi tương tự.

Chị nhìn sâu vào mắt tôi, nói ” yêu, rất rất yêu. Nhưng tôi biết, tước đây tôi đã cư xử không phải, tôi đã làm tổn thương anh ấy, tôi đâ khiến anh phải trải qua những năm tháng cô độc. Đây là sai lầm của tôi. Nếu như thời gian có thể quay ngược lại, có lẽ tôi sẽ thay đổi bản thân mình.”

” hôm nay chị hẹn tôi ra đây có phải là muốn tôi rời xa anh ấy không?” tôi nhìn thẳng vào mắt chị.

Chị lắc đầu: ” tôi chưa bao giờ nghĩ vậy. Tôi không phải là một người phụ nữ không có văn hóa, tôi biết tôi không có quyền yêu cầu người khác phải làm gì hay không được làm gì. Có rời xa anh ấy hay không, hoàn toàn do cộ tự quyết định lấy. Nếu như mười năm trước, có thể tôi sẽ không ngần ngại mà rởi xa anh ấy, nhưng bây giơ thì không thể. Đây là lỗi lầm do chính tay tôi tạo nên – tôi không trách cô, cũng không trách anh ấy.”

” nhưng…”

” cô để tôi nói hết đã.” Chị ngắt lời tôi, ” cô là một cô gái tốt, cô theo đuổi hãnh phúc của mình, điều này không hề sai. Tôi biết, trong quá trình này cô cũng đã từng đau khổ. Nhưng tôi hy vông cô có thể hiểu được rằng, anh ấy không phải là người vô tâm, anh ấy coi trọng rất nhiều thứ. Đối với anh, gia đình là một khối không thể phân tách. Con trai, tôi nói những điều này không phải để tổn thương cô, tôi chỉ mong cô có thể suy nghĩ kỹ càng, tương lai của cô còn rất dài ở phía trước, anh ấy thì đã không còn thời gian và sức lực để lựa chọn lần nữa. Anh ấy chỉ là một người bình thường, chẳng phải vậy sao?”

Tôi trầm ngâm hồi lạu, không biết nên nói gì. Tôi thừa nhận chị nói rất có lý. Lúc đầu khi anh ngả vào lòng tôi, không hề bởi tình yêu hay vì điều gì cả, mà chỉ là anh cần một gia đình khác, một gia đình có tình cảm cuồng nhiệt, có tình dục, có khuê gợi và chút phóng đãng, để trong một khoảng thời gian nào đó, thay thế cái gia đình trầm mặc của anh. tất cả mọi việc anh làm chính là để tìm kiếm một vật thay thế- chiếc giường của tôi là vật thay thế cho chiếc giường của Thư Hoa, căn phòng của tôi là vật thay thế cho căn phòng của Thư Hoa, cơ thể tôi là vật thay thế cho cơ thể của Thư Hoa. Và khi Thư Hoa có thể làm thỏa mãn anh, đương nhiên anh sẽ không cần tới tôi nữa.

Buổi trò chuyện hôm đó kết túc nhanh chóng. Từ đầu đến cuối, Thư Hoa không hề có ý yêu cầu tôi rời xa anh, chị chỉ luôn mỉm cười và kể cho tôi tình yêu của anh đối với gia đình. Thế nhưng, đối vối tôi, việc này còn tàn nhẫn hơn nhiều.

Cuối cùng tôi cũng quyết định rời xa anh. Tôi và chị không cùng đẳng cấp. Cho dù tôi có đẩy chị xuống địa ngục, chị cũng sẽ cùng với bọn ma quỷ cười nhạo sự nông cạn của tôi.

Sau khi quay về, tôi tắm thật lạu, sau đó gọi điện thoại về nhà ở Thượng Hải, nói với mẹ tôi, tôi sẽ nhanh chóng về Thượng Hải, nói với mẹ tôi, tôi sẽ nhanh chóng về Thượng Hải. Qua điện thoại mẹ hỏi tôi nguyên nhân vì sao, tôi chẳng nói được gì, rồi không kìm lòng được, tôi bật khóc thành tiếng. Tôi không nói rõ được vì sao tôi khóc, coi như một kiểu tiếc thương đối với cuộc sống mà tôi đã sống suốt hai năm qua, ở đầu dây bên kia, mẹ tha thiết an ủi tôi, bà nói: ” con ngoan, đừng khóc, mau quay về nhà đi.”

Tôi chưa bao giờ mong nhớ Thượng Hải và mẹ tôi đến thế.

Sa – tăng 3

Tôi đã trải qua nửa năm cuộc sống giống như người tu hành: không bạn bè, không tình dục, không gia đình, không phim ảnh, chỉ có rượu và thuốc. Giờ thì tôi đã hiểu nguyên nhân vì sao trong lịch sử loài người, hai thứ rượu và thuốc đã tác oai tác quái rất nhiều nhưng vẫn không bị cấm – bất luận lúc nào đó, đều có người cần đến chúng. Đứng ở một góc độ nào đó, chúng là người bạn tốt nhất của con người.

Chẳng biết từ khi nào, siêu thị trở thành nơi tôi thích lui tới. Tôi quen mua những đồ ăn đóng hợp, bởi chúng rất tiện lợi. Trong tủ lạnh của tôi để rất nhiều cá hộp Sardine và ruốc thịt bò, khi nào đói, tôi có thể tiện lấy ra ăn.

Lâu dần, hệ thống vị giác của tôi bị rối loạn, cá Sardine vì cay và ruốc thit bò vị ngọt có chung một mùi vị khi vào miệng tôi.

Từ nhỏ đến lớn, tôi đã quen với nỗi cô đơn, nhưng tôi không quen với nỗi cô đơn trong đó còn bao hàm nỗi đau khổ và sự ân hận. Trong nỗi cô đơn trước đây, tôi có thể làm rất nhiều việc: xem phim mà tôi thích, uống laioi5 bia tôi ưa chuông, thủ *** trong sư hoang tưởng phóng đãng. Nhưng giờ đây, đối với tôi, tất cả những điều này đều trở thành gánh nặng và tội lỗi.

Tôi vẫn luôn mong ngóng Lâm Lâm quay trở lại. Sau cái đem tồi tệ đó, tôi đã nhận biết được thứ mà tôi và Lâm Lâm có trong tay rốt cuộc là gì, nhưng cũng chính lúc đó, Lâm Lâm đã rời xa tôi. Cậu ấy có quyền chọn lựa, mỗi người chúng ta đều có quyền đó. Sống trên đời, từng bước đi của chúng ta đều bị khống chế và ghi lại, tôi buộc phải trả giá cho sự phóng đãng lúc đó của mình, đây chính là báo ứng. Không ai có thể thoát khỏi báo ứng.

Tôi luôn hy vọng sự khổ đâu của tôi suốt nửa năm nay chính là báo ứng của tôi. Khi sự báo ứng kết thúc, nỗi đau khổ của tôi sẽ chấm dứt, Lâm Lâm sẽ quay trở lại. Mong ước này của tôi dần dân tan vỡ trong sự chờ đợi dài đằng đẵng. Tôi thực sự rất muốn viết mail cho Lâm Lâm, nhưng mỗi lần bật vì tình, tôi lại nhận ra chẳng biết nói gì. Giữa chúng tôi vẫn luôn như vậy- không có gì để nói. Tôi luôn cho rằng, điều này rất tự nhiên, không có gì để nói chứng tỏ chúng tôi rất ăn ý với nhau. Nhưng giờ đây, xem ra sự thực lại không phải như vậy.

Trải qua một thời gian dài đầu tranh tư tưởng, cuối cùng tôi cũng thuyết phục mình rằng: Lâm Lâm đã đi thật rồi, cậu không còn thuộc về tôi nữa rồi. Có lẽ, giò này, bên nước Anh, cậu đang trải qua một mối tình mới, hoặc là sống một cuộc sống thoải mái, dễ chịu mà không cần có tôi. Giờ có lẽ, đạ đến lúc cả hai chúng tôi đều phải đi về phía trước. Nhưng cho dù như vậy, tôi liệu có thể làm gì đây?

Những ngày này, cô đồng nghiệp ổ công ty liên tục gửi tin nhắn, gọi điện thoại cho tôi, cô vẫn cứ hy vọng tôi có thể thông cảm cho cái đem mây mưa của chúng tôi, tiếp đến là tiến thêm một bước về mối quan hệ nghiêm túc và chính thức hơn với cô. Lúc đầu, tôi vô cùng chán ghét, nhưng trong khoảnh khắc tôi quyết định giải thoát cho mình, tôi lạ nghĩ đến cô – có lẽ, tôi nên ở cùng cô. Như vậy thì ai ai cũng đều có bến đỗ cuối cùng: cô có được người đàn ông cô yêu, tôi trả giá cho một đêm mây mưa của mình, còn Lâm Lâm thì có thể hoàn toàn thoát khỏi quá khứ của chúng tôi, sống cuộc sống của riêng cậu.

Một hôm, khi chỉ có mình tôi và cô, tôi đã nói với cô: ” Em lấy anh nhé?”

Cô dường như không tin, nhưng lập tức vui mừng hân hoan, cô ôm ghì lấy cổ tôi, hôn lên trán tôi, tôi đẩy cô ra.

“chúng ta cần cuẩn bị một số thứ, cố gắng kết hôn trong thời gian sớm nhất.” Tôi liên tục hút thuốc.

Những ngày sau đó, cô vô cùng bận rộn, chụp ảnh cưới, cha mẹ hai bên gặp mặt nhau, chuẩn bị cho đám cưới. Cô vui đến nỗi chạy đi chạy lại giữa hiệu chụp ảnh và cửa hàng váy cưới không biết mệt mỏi. Cha mẹ hai bên vô cùng kinh ngạc trước đám cưới nhanh như chớp giật của chúng tôi. Nhưng rõ ràng, sau khi mọi người cùng ăn một bữa cơm xong, ai nấy đều rất hài lòng. Cha mẹ cô đều là những người dân thường lương thiện, còn cha mẹ tôi thì vô cùng vui mừng khi cưới cùng tôi cũng quyết định cưới một cô gái. Thế nên hai bên nhanh chóng chọn ngày cưới và lên danh sách khách mời.

Trong thời gian này, mỗi tối, khi tôi trở về căn phòng nhỏ nơi tôi và Lâm Lâm chung sống với nhau, trong lòng lại trào dâng nỗi xót xa. Trên tủ đầu giường vẫn để tấm ảnh chụp chung của chúng tôi, ngoài ban công, vẫn treo hai chiếc tất của Lâm Lâm. Tại căn phòng này, đạ xảy ra quá nhiều thứ in đậm trong trí óc tôi, không tài nào xóa nhòa được.

Từ trước tới nay, tôi vẫn luôn cho rằng, mình là một người lạnh lùng, dửng dưng trước mọi việc, nhưng hôm nay, tôi chợt phát hiện ra, trước cuộc tình thật bại, tôi chỉ là một kẻ yếu nực cười. Thực ra, bất kỳ người nào cũng là kẽ yếu khi đứng trước tình yêu.

Tối đó, tôi bỗng muốn đi xem phim. Thế nên tôi dạo bước tới rạp chiếu phim nhỏ gần đó. Rạp sắp chiếu bộ phim ” Bá vương biệt cơ” để tưởng niệm nhân vật chính vừa mới qua đời. Trước đây rất lạu, tôi đã xem bộ phim này, nhưng tôi chẳng thích thú gì, bởi không khí trong phim quá nặng nề, u uất khiến ta ngạt thở. Nhưng lúc này, có lẽ tôi cẩn chính thứ nặng nề u uất như vậy, nên tôi mua vé rồi vào rạp.

Trong phim, Ngu Cơ là một vai tuồng nữ do nam giới đóng, nhưng cả bộ phim không phải kể về mối tình đồng tính. Tình yêu mà Ngu Cơ dành cho Hạng Vũ vượt cả ranh giới của giới tính và sân khấu. Mặc dù cuối cùng Điệp Y đã tự kết liễu đời mình trên sân khấu – bởi trong trái tim anh, sinh mạng anh đã không thể tách rởi với sinh mạng của Ngu Cơ.

Dù là bộ phim xưa cũ, nhưng vẫn thu hút được rất nhiều người tới xem. Bộ phim kéo dài ba giờ đồng hồ, trong rạp tràn gập những tiếng thở dài của các bạn trẻ tuổi non nớt chưa trải sự đời. Thậm chí, cái chết của Ngu Cơ còn khiến cho không ít người cất lên tiếng thút thít. Nhưng tôi từ đầu đến cuối vẫn lạnh lùng như băng: trong cuộc sống thực, chẳng có ai cư xử giống như cái cách mà các nhận vật trong ” Bá vương biệt cơ” đã làm, bất cứ ai rời xa một ai đó đều có thể tiếp tục sống.

Một hôm, vào buổi chiều, em họ gọi điện cho tôi, hẹn tôi cùng ăn tối. Khi đang ăn, cô nói với tôi, cô sắp quay về Thượng Hải.

“Em luôn cho rằng em không thuộc về Thượng Hải, nhưng đến Bắc Kinh, em mới nhận ra, có lẽ em hợp với Thượng Hải hơn.”

” Em không định dự lễ cưới của anh sao?” tôi hỏi.

” Trời ơi, anh định cưới thật sao? Anh chẳng qua chỉ là chọn bừa một người phụ nữ để cưới mà thôi.”

” ta phải chúc mừng nhau chứ nhỉ, em quay về nhà, anh thì cưới vợ.” Tôi gọi một chai rượu vang, rót cho cô một cốc đầy.

” anh biết không, em đã gặp vợ anh ấy rồi.” Em họ uống một ngụm rượu, nói với tôi

” thật sao? Là em tim cô ta hay cô ta tìm em?”

” đương nhiên là chị ta tìm em.”

” Anh à, chị ấy là một người phụ nữ hoàn mĩ. Đây chính là lý do khiến em quyết định ra đi. chị ấy hoàn mỹ đến độ gây cho em cảm giác bất cứ hành động nào làm tổn thương chị đều là tội lỗi. Em không muốn cả đời mình làm vật thế thân cho một người phụ nữ hoàn mĩ. Điều đó có nghĩa là em mãi mãi không thể nao vượt qua chị ấy được, còn chị thì có thể mĩm cười cúi nhìn em bất cứ lúc nào. ” Em họ uống một hớp rượu lớn. Trong rượu không pha lẫn bất cứ đồ uống nào khác, nên rất chua, cô nhíu mày.

” Ông ta có biết em sắp đi không?” tôi hỏi.

” không biết, anh ấy không cần phải biết. Việc anh ấy cần làm là ngoan ngoãn trở về nhà sau khi em rời khỏi đây, ăn bữa tối mà vợ anh ấy đã chuẩn bị kỹ lưỡng, rồi chơi đùa cùng con trai, đêm đến thì làm tình cùng vợ. Đây chính là cuộc sống anh ấy khao khát suốt bao năm qua, giờ đây cuối cùng anh ấy cũng được toại nguyện.”

” Tại sao chúng ta đều phải từ bỏ niềm vui của mình vì người khác chứ?” tôi hỏi.

” Có lẽ, chúng ta muốn nhìn thấy họ hạnh phúc hơn cả niềm vui của chúng ta. Chúng ta đều là những kẻ ngu ngốc nhất trên thế gian này. Chúng ta thích sự cô đơn, thích dùng sự cô đơn của mình để đổi lấy hạnh phúc cho người khác.” Em họ cười đau khổ, nói.

” Nhưng em đã bao giờ nghĩ rằng, chúng ta làm như vậy, liệu họ có thực sự được hạnh phúc hay không chưa? Ví dụ, em rời xa ông ta, để vợ chồng họ đoàn tụ, ông ta sẽ vô cùng sung sướng thật sao? Còn anh, anh cưới một người phu6 nữ, người phụ nữ này chắc chắn hạnh phúc, Lâm Lâm chắc chắn sẽ vui vẻ sao?” tôi hỏi.

Em họ trầm ngâm hồi lâu, nói ” Anh nói phải. Nhưng có một số việc, chúng ta không thể quyết định được.”

Tối đó, tôi và em họ đều uống rất nhiều rượu, chúng tôi đều say khướt. Sau khi uống rượu, em họ bắt lầu lè nhè ngâm nga rất nhiều ca khúc. Tôi không nghe rõ ngâm nga những gì, hình như là ca khúc đồng dao hay dân ca gì đó. Em họ vừa ngâm nga vừa rôi nước mắt. Không hiểu sao, tôi cũng bị lây cảm giác thương cảm và tôi cùng khóc với cô. Chúng tôi cùng khoác vai nhau lượn lờ trên đường khuya vắng, giống như hai con quỷ cô đơn chốn địa ngục.

Sau đó, theo sự sắp xếp của cha mẹ hai bên, tôi và vợ sắp cưới của tôi đi đăng ký kết hôn. Bên ngoài nơi đăng ký, cô nắm tay tôi, nhìn chằm chằm vào mắt tôi, nghiêm túc hỏi: ” anh thực sự đã suy nghĩ kỹ rồi chứ?”

Tôi mỉm cười, xoa đầu cô, nói: ” Đương nhiên la suy nghĩ kỹ rồi.”

Nét mặt cô vẫn rất nghiêm túc, cô hỏi tôi: ” anh nói thật đi, anh có yêu em không?”

Tôi không thích cô hỏi như vậy, nên tôi vội nắm lấy tay cô, nói ” đừng ngốc thế nữa, hôm nay chúng ta đến để đăng ký, không phải để thảo luận vấn đề.”

Cô im lặng hồi lâu, hất tay tôi ra, rầu rầu nói: ” Có lẽ hiện tại chúng ta không nên đăng ký.”

” Nhưng chỉ mấy hôm nữa là chúng ta đã tổ chức đám cưới!” Tôi không hiểu rốt cuộc người phụ này muốn làm gì.

” chúng ta có thể đăng ký sau khi tổ chức đám cưới. Đi thôi, chúng ta đi ăn trưa nào” Cô nói

Nói xong, cô kéo tay tôi bước đi. Tôi không biết nên nói gì, nhưng tôi cảm thấy rằng, có lẽ không đăng ký lúc này là một quyết định đúng đắn, chỉ có điều, tôi cũng không nói được rõ nguyên nhân vì sao.

Mấy hôm trước lễ cưới, cô không hề hỏi tôi thêm bất cứ câu hỏi nào, mà chỉ chuyên tâm chuẩn bị mọi thứ. Mỗi lần tôi nhìn thấy dáng vẻ bận rộn của cô, tôi đều nghĩ thầm: quyết định của tôi thực sự có thể làm cho mọi việc được thuận buồm xuôi gió cả sao?

Bí Ẩn Về Con Chó Lúc Nửa Đêm

Christopher John Francis 15 tuổi 3 tháng 2 ngày, nhân vật chính cuộc điều tra về cái chết bí ẩn của con chó hàng xóm lúc “7 phút sau nửa đêm”. Câu chuyện mở ra khi cậu dần khán phá những bí mật khủng khiếp đằng sau …

Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm ( The curious incident of the Dog in the night-time) là tác phẩm đoạt giải Whitbread Book năm 2003 và giải thưởng cho tác phẩm đầu tay của Commonwealth Writers. Cuốn sách được viết bởi Mark Haddon, nhà văn đã minh họa cho nhiều sách thiếu nhi và kịch truyền hình. Ông cũng từng làm việc với những người bị chứng tự kỷ.

Câu chuyện được kể dưới góc nhìn của một cậu bé 15 tuổi bị “khủng hoảng hành vi”. Tuy nhiên theo lời tác giả “Đây là cuốn sách đầu tiên mà ông viết có chủ ý cho một đối tượng người lớn” (en.wikipedia.org). Truyện đề cập đến yêu thương, hôn nhân và những lo lắng, bối rồi, khó khăn mà cặp vợ chồng phải đối mặt và những đứa trẻ họ sinh ra.

Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm cần bạn đọc chỉ số IQ nhất định, thêm chút kiên nhẫn, ham mê khoa học, toán học để không cảm thấy rối rắm và khó hiểu. Vì câu chuyện được kể dưới lăng kính của một cậu bé ” thuộc tất cả những nguyên số cho tới 7057, biết tên tất cả các nước cùng thủ đô của chúng và giết thời gian bằng cách giải phương trình bậc hai không cần giấy bút “.

Một câu chuyện đáng sợ

Câu chuyện bắt đầu từ cái chết của con chó nhà hàng xóm: ” Con chó nằm giữa bãi cỏ trước nhà bà Shears. Mắt nó nhắm. Trông như nó đang chạy nghiêng một bên, kiểu như mấy con chó chạy khi chúng tưởng mình đang đuổi theo một con mèo lúc nằm mơ. Nhưng con chó không chạy hay đang ngủ. con chó đã chết. Một cái bồ cào cắm vào mình nó. Răng cái bồ cào chắc phải đâm xuyên qua con chó và ghim vào đất vì cái chĩa không đổ xuống.” Cái chết còn đáng sợ hơn qua cái nhìn điềm tĩnh của một cậu bé, giọng kể chậm rãi, không chút hoảng hốt làm không khí xung quanh đáng sợ hơn.

Cậu bé ấy có một người gần gũi nhất là cha, người nấu ăn cho cậu, giặt quần áo cho cậu, cha chăm sóc khi cậu ốm đau, cha lo phát sốt mỗi khi cậu lang thang bên ngoài vào ban đêm, cha đến trường mỗi lần cậu đánh nhau … và quan trọng hơn hết, cha hiểu tất cả những vấn đề của Christopher. Một người quan trọng và thân thiết đến nhường ấy bỗng một ngày lại trở thành một người rất đáng sợ đối với Christopher, cậu sợ phải sống bên cạnh cha, cậu trốn khỏi nhà vì sợ cha sẽ giết mình.

Một bản nhạc lãng mạn biến thành tang thương sẽ đáng sợ hơn nhiều so với bản nhạc mà bản thân nó vốn đã đáng sợ. Tình cảnh của Christopher và cha vì một biến cố cũng đã trở nên như thế. Christopher là đứa trẻ tự kỷ, câu chuyện được kể dưới góc nhìn của một đứa trẻ “không được bình thường” thực sự khó hiểu và có một chút dông dài với người bình thường.

Tuy nhiên, chính sự khác biệt đó làm câu chuyện trở nên đáng sợ khi độc giả đứng ở góc nhìn tâm trí cậu khi tất cả mọi điều xảy ra. Trong hành trình bỏ chạy của mình Christopher đã có lúc phải chịu cảm giác đáng sợ tới mức “nghe máu trong tai mình và tim mình chảy rất nhanh, và một cơn đau như có người đập nổ một quả bóng thật lớn trong ngực”.

Nhưng Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm cũng là câu chuyện không kém phần hài hước

Tại sao lại có những yếu tố đáng sợ và hài hước trong cùng tác phẩm? Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm có đầy đủ cả hai thái cực đối nghịch đó.

Sự hài hước ở đây hoàn toàn không đến từ sự sắp đặt cố ý mà vô tình có được từ cái nhìn ngây ngô và hay liên tưởng của một đứa trẻ. Sự hài hước cũng không đến từ những tình huống thật sự vui vẻ, mà thậm chí còn là ở trường hợp trở nên đau đớn, phẫn uất: Khi Christopher nói với mẹ về một lời nói dối khủng khiếp của cha, mẹ đã rất tức giận, rên lên và Christopher đã miêu tả bà thế này: “Rồi bà rên lên một tiếng lớn như con thú trong chương trình thiên nhiên trên truyền hình.”. Hay khi cha muốn làm lành với Christopher và hành động của cha trong mắt cậu bé: “Rồi ông đến gần tôi hơn và ông quỳ xuống như khi ta làm với con chó để cho thấy bạn không phải là kẻ gây hấn …”

Những tình tiết đau đớn

Mark Haddon đã tạo nên hình ảnh bậc phụ huynh của Christopher là 2 cá thể khó nhận sự đồng cảm, đặc biệt là người mẹ, nhưng lại khiến độc giả có thể hiểu và thông cảm cho họ. Hai con người bị đẩy vào thế đường cùng, họ đã có những hành động thuộc về bản năng. Họ chấp nhận những lựa chọn sai lầm miễn là nó giúp họ vượt qua những đau đớn dằng xé. Nhưng những thứ con người phải chạy trốn là những thứ họ không thể quên và chưa bao giờ đặt xuống được.

Một người cha rất mực yêu thương con cái. Ông bình tĩnh, kiên nhẫn nhưng vì quá khứ đã từng để sự tức giận và lòng tự trọng chi phối để rồi đi đến quyết định làm tổn thương người ông yêu thương nhất. Giọt nước mắt của người cha mỗi khi ông cố gắng hàn gắn với Christopher khiến người đọc không khỏi đau lòng. Ở đó còn có một người mẹ đáng trách, nhưng sự lựa chọn với áp lực mà môt người nóng nảy và thiếu kiên nhẫn như bà cũng có thể chấp nhận được.

Tác phẩm đưa cho độc giả sự thật: “Sống trên đời khó lắm […]. Lúc nào cũng phải nói sự thật thì khó vô vàn”. Người lớn luôn dạy trẻ con những điều phải. Nhưng trớ trêu thay, người lớn là những người phá vỡ chính những điều mình đã dạy nhiều nhất. Đôi khi bi kịch xảy ra từ những việc đó.

Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm còn ẩn chứa trong đó những tổn thương rất lớn mà một đứa trẻ có thể gặp phải từ những mâu thuẫn của bố mẹ, từ việc mất niềm tin với những người luôn dạy chúng nói sự thật nhưng lại nói dối chúng. Những mong muốn được trở thành một người không khác biệt trong một giấc mơ rất tiêu cực, nhưng lại là một giấc mơ đẹp đối với Christopher.

Cậu bé mơ một ngày tất cả loài người trên trái đất bị nhiễm virus và gần như chết hết. Những người tồn tại còn lại là những người giống như cậu, cậu có thể tự do làm mọi điều mà không khiến ai hay chính cậu phiền lòng.

Kết

Ba con người với ba vấn đề riêng của mình. Nhưng lại đều bị tác động lẫn nhau. Họ không thể hiểu nhau. Hoặc có hiểu cũng không thể tha thứ. Trong một bức thư gửi con trai, mẹ của Christopher đã nói: “Có lẽ nếu sự việc khác đi, có lẽ nếu con khác đi thì chắc mẹ đã tốt hơn”- Nhưng rất tiếc, cuộc sống là vậy, có những điều diễn ra, chúng ta chỉ có cách duy nhất là chấp nhận. Chấp nhận và tìm cách sống chung với nó. Và 3 con người đó đang tiến dần từng bước tới con đường còn nhiều khó khăn đó. Nhưng ít ra thì họ cũng đang bắt đầu cùng nhau.

Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm là một tác phẩm không dễ đọc. Nhưng nó sẽ là một tác phẩm tuyệt vời với những độc giả hiểu được. Nó sẽ khiến người ta thấy đáng sợ, đau đớn và cười cùng một lúc.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vụ Bí Ẩn: Con Chó Tàng Hình Chương 4: Con Chó Ma Quỷ, trên website Dhrhm.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!