Bán Chó Săn Dân Tộc / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Dhrhm.edu.vn

Truyền Thống Lịch Sử Dân Tộc Việt Không Ăn Thịt Chó

Nhiều Nghệ Sĩ Đau Lòng Sau Cái Chết Của Chú Chó Pốp Trước Bọn Cẩu Tặc

Vì Sao Thịt Chó Nam Định Lại Ngon Nức Tiếng

Ăn Thịt Chó Có Tốt Không? 7 Món Thịt Chó Ngon

Quả Óc Chó Mua Ở Đâu Kiên Giang

Muỗi Có Cắn Chó Không?

Ủy Ban Nhân dân thành phố Hà Nội đang đề xuất cấm bán, chế biến, ăn thịt chó mèo trên địa bàn Hà Nội đã gặp nhiều ý kiến phản đối cho rằng ” Thịt Chó là món ăn truyền thống của dân tộc Việt nam”, lập luận cho rằng thịt Chó là món ăn truyền thống dân tộc thuần túy chỉ dựa trên cảm tính vì hàng trăm năm qua Dân Việt, nhất là người ở miền Bắc Việt Nam thường ăn thịt Chó. Vậy sự thật lịch sử là thế nào? Hãy tra cứu nguyên văn các thư tịch sử sách cổ Trung Hoa và Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, năm 247 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung quốc lúc đó có địa giới chủ yếu là phía bắc sông Hoàng Hà và một phần của nước Sở ở lưu vực sông Dương Tử (sông Trường Giang) kết thúc thời Chiến quốc. Năm 218 trước Công nguyên, Nhà Tần sai Hiệu úy Đồ Thư cầm 50 vạn quân (Nửa triệu quân chưa kể dân phu) chia làm 5 đạo cùng với các tội nhân tiếp vận lương cùng vượt sông Dương Tử tiến về phía Nam đánh chiếm đất của Bách Việt. Chỉ trong khoảng hơn một năm (217 Tr.CN), quân Tần đã chiếm được gần hết vùng đất rộng lớn của Bách Việt từ nam sông Dương Tử ngày nay ở Trung Quốc là các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Chiết Giang, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông,… đến Hải Nam. Thiên Trần Thiệp thế gia – Sử ký Tư Mã thiên có viết:” Đến đời Tần Thủy Hoàng, nhờ cái sự nghiệp sáu đời để lại, cầm cái roi dài mà chế ngự cả thiên hạ,…Phía nam lấy đất Bách Việt, lập thành Quế Lâm, Tượng quận. Vua Bách Việt cúi đầu, buộc cổ nộp tính mạng cho quan coi ngục,…Năm thứ ba mươi ba (năm 188 chúng tôi Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những ngưởi rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, cho những người bị đi đầy đến đấy canh giữ”. Sau khi chiếm đất Bách Việt, Nhà Tần đưa những người bị tội vào ở lẫn lộn với người Bách Việt 13 năm, thực hiện lần đầu tiên chính sách đồng hóa chủng tộc của người Hoa Hạ – sau gọi là Hán.

Sách Nam Việt Vương Úy Đà liệt truyện Sử ký Tư Mã Thiên, Sách Hoài Nam tử của Hoài Nam Vương Lưu An viết năm 190 chúng tôi – Sách đã dẫn. Sách Hoài Nam tử ghi: “Nhà Tần lại ham sừng tê, ngà voi, long trả, ngọc châu, ngọc cơ của đất việt, bèn sai úy Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm năm đạo. Trong ba năm không cởi giáp dãn nỏ,… nhưng người Việt đều vào rừng ở với cầm thú không ai chịu để quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng, để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ thư. Quân Tần thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người.” . Khi Đại quân Nhà Tần với hơn nửa triệu người cùng hàng trăm vạn tội nhân làm quân lương đi theo tấn công về phía nam vào vùng Lĩnh Nam (phía Nam dẫy Ngũ Lĩnh thuộc đất Việt cổ nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) thì gặp sức kháng cự rất mạnh của người Âu Việt và Lạc Việt. Sử Lộc là người Việt theo Nhà Tần làm đến chức Ngự sử Giám quân của nhà Tần. Sử Lộc thông thạo địa hình vùng Bách Việt nên đã làm hướng đạo cho Đồ Thư. Sách Hoài Nam Tử, Nhân gia huấn viết: ” (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống“.淮 南 子·人 间 训:”(秦 皇)又 以 卒 凿 渠 而 通 粮 道,以 与 越 人 战,杀 西 呕 君 译 吁 宋。”. Trong suốt 3 năm quân Tần vừa phải đào kênh chuyển vận quân lương xuống phía Nam, vừa phải chống đỡ các cuộc tấn công du kích của người Âu Việt, Lạc Việt. Sau khi chiếm được vùng đất rộng lớn của Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử, Tần Thuỷ Hoàng sai Nhâm Ngao 壬 嚣 cùng với một số quan lại người Hán trong đó có Triệu Đà – 趙 佗 (sau nhân loạn Nhà Tần chiếm đất Bách Việt lập ra Nam Việt tự xưng là Triệu Vũ đế 趙 武 伯 倭, hiệu Nam Hải lão phu 南 海 老 夫. Triệu Đà gốc là Người Hoa Hạ (sau gọi là người Hán), quê ở huyện Chân Định 真 定, quận Hằng Sơn 恒 山, đời nhà Tần. Ngày nay là huyện Chính Định 正定, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) đến cai trị quận Nam Hải, nay là Quảng Đông và đảo Hải Nam.

Sau khi chiếm được thiên hạ là những vùng đất rộng lớn mà trước đó chưa từng có: “Tần Thủy Hoàng chia thiên hạ làm 36 quận, thống nhất pháp luật, cân, đo, trục xe, chữ viết cùng một lối như nhau, … Cấm không được thờ ” ( Tần Thủy Hoàng bản kỷ, Sử ký Tư Mã Thiên)- Đây chính là bước mở đầu thực hiện sự nô dịch, đồng hóa của người Hán cả về văn hóa, tôn giáo, chủng tộc,… lên các dân tộc bị chiếm đóng. Chữ Việt cổ và tôn giáo Đạo Thánh Mẫu Việt bị cấm. Để bảo tồn được Giáo lý lấy truyền thống đạo lý tốt đẹp của Gia đình là tín điều của Đạo Thánh Mẫu đã lấy thờ cúng Gia Tiên, Tam Tòa Thánh Mẫu ẩn thành tục thờ 3 bát hương. Ngày nay các dấu tích rõ nhất chữ Việt cổ đã được ghi trên nhiều hiện vật khảo cổ học Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Đông Sơn, …. cũng như trên bãi đá Sapa, ở các di chỉ khảo cổ học, các di tích khắc trên đá ở vùng Ngũ Lĩnh, các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây,… cả vùng hữu ngạn, tả ngạn sông Dương Từ và lưu vực sông Hoàng Hà, Trung Quốc. Cuộc Nam chinh của quân Tần xâm chiếm đất của Bách Việt kéo dài khoảng 10 năm, người Lạc Việt đánh quân Tần gần 7 năm từ năm 214 chúng tôi đến năm 207 tr.CN.Theo nhiều sử liệu, sau cuộc chiến chống Tần thắng lợi, Thủ lĩnh Âu Việt là Thục Phán đã thay thế Hùng Vương, nhập Tây Âu và Lạc Việt thành nước Âu Lạc, lên ngôi An Dương Vương vào khoảng năm 207 chúng tôi Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế kế vị. Sự thất bại trước Lạc Việt của Đại quân Tần là nguyên nhân chính làm suy yếu cai trị của Nhà Tần tạo thời cơ cho các nước ở Sơn Đông nổi dậy chống Tần. Nhị Thế buộc phải ra lệnh bãi binh đánh Lạc Việt. Đến khoảng cuối năm 207 chúng tôi đầu năm 206 chúng tôi Nhà Tần bị diệt.

Lần đầu tiên trong lịch sử Nhân loại xuất hiện Chiến tranh Nhân Dân của Dân tộc Lạc Việt. Người Lạc Việt đã thực hiện chiến tranh chống ngoại xâm với chiến lược, chiến thuật chiến tranh Du Kích, kết hợp cầm cự, bảo toàn lực lượng vận động chiến, đánh tiêu hao sinh lực địch rồi Tổng tấn công quyết chiến chiến lược. Sau này Chiến tranh Nhân Dân Việt đã được đúc rút cải tiến để Dân tộc Việt thực hiện hơn 2,250 năm sau trong suốt các cuộc chiến tranh Giữ Nước. Đây là một phương thức chống ngoại xâm rất hiệu quả, quân xâm lược có thể đánh thắng Một Đội Quân bản địa nhưng không bao giờ đánh thắng được cả một Dân tộc Việt có tinh thần yêu nước, bất khuất, kiên cường. Những chiến sỹ Vệ quốc Việt từ thời cổ đến nay gần hết đều chiến đấu kiên cường, hy sinh, không đầu hàng giặc Ngoại xâm.,… Những đặc tính quý giá vô cùng đó đã thành một truyền thống bất tử tinh thần bất khuất Việt có từ ngày lập nước hàng vạn năm trước đến vô cùng trong đấu tranh vì Độc lập, Tự do, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam ngày nay ” Thà hy sinh tất cả, quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ”

Sử sách thời cổ đại ở Trung Quốc viết năm 214 chúng tôi quân Tần đi xuyên sơn vào đất Lạc Việt, bị khốn gần 10 năm, Người Tây Âu và Lạc Việt không chịu hàng bỏ vào rừng, đêm ra đánh, lâu ngày quân Tần hết lương, bèn phá tan quân Tần chết mấy trăm vạn, giết được Đồ Thư. Quân Tần đại bại, đến năm 207 chúng tôi vua Tần Nhị Thế phải cho quân Tần rút về nước. Mười phần lúc Nhà Tần khởi binh xâm lược Bách Việt, khi thua trận tàn quân chạy về chỉ còn 2 ~ 3 phần chạy về Trung Nguyên (Trung Hoa). Đây chính là một trong những cuộc kháng chiến chống Ngoại xâm đầu tiên, vĩ đại nhất Thời Cổ đại của người Lạc Việt được ghi rất nhiều trong sử sách Trung Hoa. Những sự kiện lịch sử của Người Lạc Việt phần lớn được ghi trong hàng trăm thư tịch cổ Trung Hoa. vào những năm cuối thập niên 60 và thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, khảo cổ học Trung Quốc đã khai quật được rất nhiều di vật khảo cổ về vũ khí, áo giáp, xe, hài cốt người,… có niên đại thời nhà Tần. Trong các di chỉ khảo cổ học của Người Việt được khai quật có Xương Chó, vũ khí in, đúc, khắc hình Con Chó.

Nền văn minh Lạc Việt thời kỳ này đã được các tư liệu khảo cổ học, thư tịch cổ xác nhận là một quốc gia phát triển cao trên Thế giới thời cổ đại. Kinh tế Lạc Việt để lại các bằng chứng di chỉ khảo cổ về kỹ thuật chế tác vải sợi bông, đồ đồng, áo giáp, giáo, mác, kiếm, qua và đặc biệt vũ khí đánh xa là nỏ liên châu,… là một Cường quốc Thế giới lúc đó, nhưng dân số Lạc Việt ít nên trong chiến tranh giáo, kiếm dùng sức người thời cổ, quân dân Việt không thể đối đầu ngay với gần 1 triệu quân Hán và tội nhân đi theo. Vì thế Người Việt đã phát huy ưu thế chiến đấu trên địa hình núi rừng hiểm trở tại quê hương nên đã duy trì phần lớn sức mạnh bằng cách cầm cự, đánh du kích tiêu hao lực lượng địch, đẩy lùi rồi mới Tổng tấn công tiêu diệt phần lớn quân Tần, giết Thống lĩnh quân Tần là Hiệu úy Đồ Thư.

Dã Sử và truyền thuyết thời cổ nói rằng các Đội quân Việt khi đánh quân xâm lược thì trong các Đoàn quân Việt thường nuôi hàng trăm con chó, được huấn luyện để canh gác nơi đóng quân cũng như được đưa ra xung trận đầu tiên làm rối loạn hàng ngũ quân giặc rồi quân Việt mới tiến công. Sự việc nuôi chó trong quân Việt đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí về việc Tướng quân Nguyễn Xí huấn luyện hàng trăm con chó trong quân khởi nghĩa của Lê Lợi chống Nhà Minh. Trong các di vật Khảo cổ Văn hóa Hòa Bình đến Văn hóa Đông Sơn có nhiều chứng tích về thuần dưỡng chó và sự quý mến của Người Việt với con chó nhà.

” Trong số xương cốt động vật mà E. Patte, nhà khảo cổ học người Pháp khai quật tại cồn sò điệp Đa Bút (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) từ những năm 30 thế kỷ XX, đã có xuất hiện một số mảnh xương hàm chó.Những mảnh xương đó được các nhà khoa học xác nhận thuộc một loài chó nhà gần với loài chó Phú Quốc. Địa điểm khảo cổ học Đa Bút có niên đại carbon phóng xạ C14 có niên đại 7000 năm cách ngày nay được coi như niên đại sớm nhất thuần dưỡng chó ở Việt Nam. Năm 2004 khai quật khảo cổ mộ bó xương người có niên đại gần 20 ngàn năm khai quật tại mái đá Đú Sáng (Kim Bôi, Hòa Bình) thuộc Văn hóa Hòa Bình cũng đã phát hiện một cặp hàm trên và hàm dưới của một loài chó. Cặp hàm này thuộc một cá thể chó trưởng thành được chôn như vật tùy táng trong ngôi mộ, có thể thấy đây phải là vật nuôi thân thiết với con người khi còn sống.

Trong các di vật đồ đồng Văn hóa Đông Sơn thời kỳ 2,500 năm chúng tôi đến thế kỷ trước và sau Công Nguyên. Con Chó được thể hiện rất nhiều trong sinh hoạt, chiến trận của Người Việt. Hình ảnh chạm khắc, tượng chó giúp người săn hươu là hình ảnh tiêu biểu trên hàng trăm rìu chiến hình mũi hài Đông Sơn. Ở đây, những chú chó luôn chặn đầu đàn hươu đang chạy, đối diện phía bên kia là những thợ săn giương cung, vung rìu trên các con thuyền độc mộc. Trên những tang trống hay thân thạp đồng có trang trí thuyền chúng ta thấy chó còn được đưa lên thuyền chiến đi cùng các chiến binh hóa trang tham dự lễ xuất quân hoặc lễ khải hoàn chiến thắng. Chó cũng từng thấy gắn bó với cảnh sinh hoạt của một nhóm người Đông Sơn hành lễ được đúc trên một cán dao găm bằng đồng và được đúc trên các vật trang trí gắn trên đồ gỗ hay trang phục, đầu tóc quý tộc Đông Sơn. Nhưng có lẽ bức tượng người bằng đồng đứng thẳng trong tư thế hai tay thân thiện đặt trên lưng hai con chó được khai quật trong khu mộ thân cây khoét rỗng Phú Lương (Hà Đông, Hà Nội) là hình ảnh tiêu biểu và sinh động nhất về quan hệ giữa người Đông Sơn và “loài khuyển” đáng quý này. Cho đến nay đã phát hiện được hai khối tượng như vậy. Nghệ nhân đúc đồng đã thể hiện một người đàn ông búi tó cao khoảng 8cm với cặp chó như sinh đôi ở hai bên đứng cao tới trên thắt lưng của người đàn ông đó. Hai tay người đàn ông đặt ngang lưng hai con chó, rất khoan thai, thân thiết.

Trải qua trên 7000 năm gắn bó Nhân – Khuyển, chó càng trở thành người bạn không thể thiếu trong đời sống người Việt. Chó được trân trọng đặt canh cổng trong các kiến trúc tâm linh như: đền, miếu, lăng mộ… và có lẽ đã được gia nhập linh vật Việt dưới dạng Nghê thần. Thậm chí chó còn được lập đền thờ cúng như một Linh Cẩu. Đặc biệt, từ hơn hai ngàn năm trước, chó còn được chọn đặt trong số 12 con vật tượng trưng cho mùa màng, cho số phận của con người và trời đất: Cứ mười hai năm lại quay một vòng trở về với Tuất. Năm nay là năm Mậu Tuất.

Có thể vì thế mà con chó được Người Việt tôn thờ làm Linh vật Chó Đá canh giữ cổng đền, chùa hay trước cổng những gia đình khá giả ở xã thôn miền Bắc, ở trước nhiều ngôi mộ cổ, lăng, … Nhiều nơi dưới chân tượng chó đá thường có một bát hương để thắp lễ vào các ngày Rằm, Mùng Một, ngày Tết Nguyên Đán,… Trong đời sống tâm linh người Việt, đặc biệt là người dân ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, ở các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương thì người ta tin rằng con chó đá để ở ngoài cổng có thể đuổi được tà ma. Dân gian có câu: ” Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang” là ý coi trọng con chó đã được người Việt thuần hóa, gắn bó từ hàng vạn năm. Con Mèo là một gia súc tự thuần hóa vì thấy nơi ở của con người nhiều chuột, sẵn thức ăn, vậy nên bản tính hoang dã của con mèo cao hơn con chó.

Tiến sĩ Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Văn hóa Du lịch – Đại học Văn hóa Hà Nội có nhận xét ý nghĩa của tục thờ chó đá tại những làng quê Bắc bộ Việt Nam xưa: “Con chó rất quan trọng trong đời sống người dân nên người ta đã linh thiêng hóa hình ảnh của nó và đưa nó thành chó đá để thờ và ra đời phong tục thờ Chó Đá. Bởi vì đá là một vật rất cứng rắn, trường tồn, thấm đẫm linh vị của trời đất, âm dương, vũ trụ nên con chó lại được tạc hình bằng đá là để mong muốn cái sự vững chãi, trường tồn, bền vững cùng với thời gian và gắn với việc xua đuổi, trừ tà, trừ ma cho con người. Hình tượng chó đá thường được đặt trước cửa nhà dân, những nhà giàu có, quyền quý, những lăng mộ của người giàu sang, các cổng đình đền, để bảo vệ cho thân chủ, cho làng quê được bình yên. Tục chó đá xuất phát từ cuộc sống như vậy”.

Những năm đầu thế kỷ XX trở về trước, ở nhiều nơi cổng thôn, cổng làng người Việt ở Bắc Bộ đều có tượng chó đá. Chó đá canh giữ cho nơi thờ này thể hiện sự tôn nghiêm về mặt tâm linh. Chẳng hạn, tại di tích Đình làng Địch Vĩ, xã Phương Đình – Đan Phượng – Hà Nội, có thờ nhóm tượng chó đá. Nhóm tượng này gồm nhiều con, làm bằng đá xanh, có kích cỡ nhỏ khoảng 50 đến 60 cm, ước đoán được tạc thế kỉ XVIII. Tại đình và chùa ở Làng Phù Trung (nay là Trung Hiền) , Hà Nội, trong khuôn viên di tích có tượng chó đá. Tượng chó đá đặt trên bệ thờ bên trái sân đình. Bệ thờ xây bằng gạch, trát xi măng, giữa đặt một hòn đá tảng chân cột của ngôi đình cũ. Tượng Chó cao một mét tạc bằng đá xanh ở tư thế ngồi, hai chân sau áp sát xuống đất. Trước tượng để bát hương, lễ vật đặt vào chân đá tảng hình tròn như cái mâm. Dân làng gọi là quan Hoàng Thạch.

Phủ thờ quận công Nguyễn Ngọc Trì ở làng Hát Môn, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, có 4 con chó đá, 2 con nghê đá, toàn bộ bằng đá xanh nguyên khối. Bốn con chó đá đặt trước và sau phủ gọi là Thạch cẩu, hai chân trước đứng, chân sau gập lại ở tư thế ngồi, trước tượng có bát hương thờ. Trong đình làng Ngọc Canh, xã Tam Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc có bức chạm gỗ hình đoàn người, ngựa đi săn trở về có đòn gánh buộc một con nai. Một con chó săn chạy đầu đoàn người về làng diễn tả niềm vui săn bắn. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi Lăng Ngải Sơn còn có tên gọi là An Lăng, hiện nay còn ở chân đồi khu Ao Bèo, thôn Trại Lốc, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh nằm trong Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều có một tượng chó đá dài khoảng 60cm, nằm khoanh tròn chân, thu vào trong lòng, đầu gục xuống, đuôi cong xuống. Tại hai làng Phổ Trung, Phổ Đông thuộc xã Phú Thượng, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế có chó đá cũng được thờ có mái che, đặt ngay đầu xóm. Trước tượng chó đá có đĩa hương, đèn để thờ phụng. Dân hai làng ở đây cung kính gọi hai bức tượng chó đá là ngài “Thiên cẩu”. Những ngày rằm, mùng một người dân thường đến thắp nhang và cầu khấn.

Chùa Cầu ở Hội An, Quảng Nam ở miền Trung được xây dựng vào thế kỷ 17 có bảng câu đối chữ Hán có nhắc đến Chó là Thiên Cẩu – là một linh vật, Nhà Văn hóa Dân gian Nguyễn Bội Liên (1911-1996) có dịch và giải nghĩa câu đối chữ Hán ở phía cửa đông cầu:

“Thiên cẩu song tinh an cấn thổ,

Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”.

“Hai sao thiên cẩu ở yên nơi đất cấn

Hai tướng tử vi định được chốn quẻ khôn”.

Đôi câu đối chữ Hán ở cửa phía tây của cầu:

“Ngoạn nguyệt khách du châu vĩ điện,

Khán hoa nhân đáo mã đề lôi”

“Khách ngắm trăng thuyền nhanh như chớp

Người xem hoa vó ngựa sấm vang”

Nghiên cứu Dân tộc học đã cho thấy Con Chó được coi là Vật Tổ ( Totem) trong tín ngưỡng của người Cơ Tu. Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa có một trận đại hồng thuỷ tiêu diệt muôn loài. Chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, người Tà Oi, người Việt…ra đời.

Truyền thuyết về ông Tổ Chó cũng còn thấy ở nhiều dân tộc khác ở Việt Nam như Chăm, Xê Đăng, Lô Lô, S’tiêng, Giẻ Triêng, Dao, … Người Dao có truyền thuyết và phong tục thờ ông Tổ Chó. Truyền thuyết kể rằng: “Xưa kia có ông vua của người Dao không có con trai chỉ sinh được 12 người con gái. Một ngày giặc sang xâm lược, vua liền truyền rằng ai đánh thắng giặc vua sẽ gả cả cho 12 cô con gái, vua cầu khấn Trời để xin. Rồi xuất hiện một Long Khuyển ngũ sắc, đầu Chó, mình Rồng, lông ngũ sắc, lại có 12 cái đuôi, đến xin vua cho đánh giặc. Long Khuyển ra trận diệt hết giặc rồi trở về gặp Vua. Nhà vua liền gả các con gái cho Long Khuyển được vua truyền ngôi báu”. Để nhớ ơn con Long Khuyển đã có công dẹp giặc cứu dân nên người Dao thêu hình con chó với bốn chân chó ở sau áo.

Văn học dân gian có tác phẩm Lục súc tranh công (khuyết danh) viết bằng chữ Nôm, xuất hiện khoảng đầu TK XX, con chó có mặt để nói về công trạng của mình:

” Đêm năm canh con mắt như chong:

Đứa đạo tặc nép oai khủng động.

Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,

Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.

Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,

Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.

Bao quản chui gai, lước góc,

Chi này múa mỏ, lòn hang …”

” Khi sống thì giữ gìn của đời,

Khi thác xuống giữ cầu âm giải,

Người có phước, muông đưa ra khỏi,

Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu!

Chủ có lòng suy trước, xét sau,

Khi lâm tử gạo tiền tống táng.

Chủ đã có công dày ngãi rộng,

Muông dễ không tiếp rước đãi đưa…”

Trước thời điểm ra đời của Lục súc tranh công, có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. Khi được coi là Linh vật, chó đá được đục khắc một hình hài oai nghiêm tĩnh lặng đặt hai bên trước cổng đền, chùa, miếu. Trong nghệ thuật tín ngưỡng Việt, từ hình ảnh Chó – một gia súc, qua sáng tạo, thần hóa thành Chó Đá, rồi để tăng thêm sự linh thiêng, quyền uy trấn giữ ma quỷ nhưng vẫn gần gũi với đời sống người Việt thì Chó Đá biến thành Con Nghê, với tư thế bốn chân ngồi canh giữ giống chó đá, nhưng về hình thức lại biến hóa có vây, có vẩy, dáng ngồi như chó, thân hình lại như rồng mà không phải là rồng.

Tra chữ Nghê trong Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế, tại trang 1213 có ghi chú giải chữ Nghê là Ráng Trời, viết bộ Võ, nghĩa là: “Trời mây sắc đỏ”. Không rõ chữ ” Nghê” là một danh từ thuần Việt, không có trong Hán tự, hay là chữ Nôm? Khác chó đá ở hình thái linh vật bên ngoài, Con Nghê có lúc được đưa lên cao hơn khi Chó Đá chỉ ngồi ở dưới đất. Nhiều tượng Con Nghê được đặt trên đỉnh trụ tam quan, trên mái đền, chùa ở khắp các vùng Bắc bộ Việt Nam. Con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Hình tượng Con Nghê được chạm xà bẩy từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài, được gắn trên đầu đao đình, chùa, đền, phủ.

Lược trích một số thông tin về hình tượng Con Nghê: Một số cổ vật tượng và hình Con Nghê đang lưu giữ tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp: 1/ Chân đèn có tượng Nghê, chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng, Hà Nội.2/ Đĩa vẽ hình Con Nghê. Tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Hà Nội hiện đang lưu giữ 08 cổ vật hình Con Nghê được làm qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm cổ như: Tượng con Nghê, bình đốt trầm hương trên bàn thờ, nậm rượu hình con Nghê, chân đèn hình con nghê, đĩa trang trí hình con nghê. Còn lưu giữ được các hiện vật Con Nghê thời Lý làm bằng gốm ở chùa Cổ Chất, tỉnh Nam Định.

Nghê đá, thế kỷ 17, lăng Họ Ngọ, Hiệp Hòa, Bắc Giang, hai Con Nghê đá, thế kỷ 18, lăng Dinh Hương, Hiệp Hòa, Bắc Giang, Nghê đá, thế kỷ 17, đền Gióng, Gia Lâm,Hà Nội,

Về chữ ” Cẩu” có thể được dùng đầu tiên của Cao Bá Quát làm bài thơ tả hai ông quan chửi nhau vào thời vua Tự Đức (1847-1883). Các danh từ về chó có trong thơ văn như Khuyễn mãhay Sài lang, là nói về giống Chó Rừng hung dữ, xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh, có hình dáng, lông sắc phong phú như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ ” quân cẩu trệ ” là muốn ám chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đây là mặt trái, xấu bẩn và ác của “Con” chó cũng như phần xấu, ác trong ” Con” của Người.

Trong đời sống hàng ngày, chó là con vật thông minh, trung thành nhất trong các gia súc. Nhiều tác phẩm văn học đã ví tình yêu trung thủy, sự trung thành như: ” Con Chó”. Có nhiều chuyện về sự trung thành, chí tình của con chó với chủ nuôi. Dân gian có câu: ” Chó không chê chủ khó, Con không chê bố mẹ nghèo”. Trong hồi ký ” Những năm tháng ấy” của Nhà văn Vũ Ngọc Phan có viết chuyện cảm động về một con chó vàng, lùn đặt tên là Con Vịt rất khôn, khi chủ chết, nó bỏ ăn năm dưới gầm gường cũ của chủ, rồi chết: ” Bà ngoại tôi có nuôi một con chó thấp lè lè tè đặt tên là Vịt. Khi nhà có giỗ, bà ngoại tôi bảo con Vịt rằng: ” Hôm nay nhà có giỗ đấy. Vịt lên Hàng Bồ mà ăn cỗ” Thế là Vịt ta ve vẩy cái đuôi, tỏ ra đã hiểu, một lát sau nó từ Hàng Gai chạy lên Hàng Bồ một mình, ăn cỗ xong, nó lại trở về Hàng Gia là nơi ông bà ngoại tôi ở. Sau khi ông ngoại tôi mất, con vịt cứ nằm dưới gầm gường ông ngoại tôi, nhịn ăn, rồi chết” .

Chính tác giả viết sách này cũng thích nuôi chó, cũng chỉ nuôi chó ta. Những năm 1990 ở Triệu Việt Vương, Hà Nội nhà tôi ở có sân vườn cũng đã nuôi hàng chục lần chó. Khi tôi đi các nơi đều chăm chú hỏi kinh nghiệm chọn chó ta thế nào là khôn. Tuy nhiên chọn được con chó ta khôn rất khó. Chó ta khôn thì sự hiểu của nó gần như đứa bé dưới 10 tuổi, không cần ra hiệu chỉ nói cũng biết làm theo lệnh chủ. Tôi (tác giả) có một người bạn nuôi được con chó ta độ 3 tuổi, khôn, đang độ khỏe, lông mượt bóng. Một hôm bạn tôi đùa bảo: ” Tao cho mày vào nồi,…”, tưởng nó không hiểu, chỉ đùa, con chó hiểu sợ nhất định không ăn uống rồi chết. Sau lần ấy, bạn tôi ân hận mãi, rồi cũng không bao giờ chọn mua hay nuôi được con chó nào nữa, cứ mang về nuôi không chết thì bỏ nhà đi. Những người nuôi chó lâu năm nói: ” Bị con chó trước nó oán,…” .

Như vậy con chó là một trong những loài vật được Người Việt nuôi từ rất sớm, nếu không nói là một trong những Dân tộc đầu tiên thuần hóa Chó Rừng thành Chó Nhà trong buổi bình minh Nhân loại. Từ nhiều những chứng khoa học đã được công bố, xác minh, trong phong tục truyền thống Việt đã không ăn thịt chó. Giáo lý cổ xưa nay còn lưu giữ truyền kỳ của Đạo Thánh Mẫu Việt có trên di tích Thiên Đàn do Vua Việt là Đế Minh lập để tế cáo Trời, Đất, dấu tích hiện vẫn còn trên núi Đại Minh, Quảng Tây, Trung Quốc có niên đại khá chính xác là năm Nhâm Tuất, cách đây 4,879 năm có khắc hàng nghìn chữ Việt cổ về chiêm bói, cúng tế và hình khắc vẽ chim và các biểu tượng khác được giải nghĩa thờ Tam vị là Trời, Đất, Nước,… đến nay vẫn còn tồn tại trong tục thờ phụng Gia Tiên của Tam Tòa Thánh Mẫu là cấm kỵ ăn thịt chó, vì ăn thịt chó không khác gì ăn thịt người bạn trung thành. Người Việt gọi Chó là Tuất, được xếp hạng thứ 11 trong Lịch 12 con Giáp, Tuất đứng trước Con Lợn – Là Hợi.

Về nguồn gốc phong tục ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam hiện vẫn chưa có một tài liệu, chứng cứ khoa học xác thực nào.Sự ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam có được một số giáo sỹ người Pháp viết trong bài “Bản tường trình về xứ Đàng Ngoài của cha Baladinotti” được dịch theo bản tiếng Pháp: “La relation sur le Tonkin du P. Buldinotti. BEFEO. 1903. tr. 71 -78, được viết từ Ma Cao, ngày 12-11-1626 và chuyện người Việt ăn thịt chó trong bài “Những ghi chép về xứ Bắc kỳ của đức ông De la Bissachère” được ghi như sau: “Thịt chó được xem là tuyệt hảo hơn cả và giá bán là rất đắt. Lần đầu tiên 1 người Châu Âu ăn thịt chó cần phải dằn lòng và cảm thấy bị cứa nát trái tim song đã qua rồi thì chẳng còn thấy khổ đau chi nữa”. Cuốn nữa là cuốn “Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ đàng ngoài” của tác giả người anh là Richard, ông này cũng là thầy tu. Về tục ăn thịt chó thì ông ta viết như sau: “Tôi đã chứng kiến họ mổ thịt con chó, sau đó họ chế biến ra các món” cho thấy người dân Đàng ngoài (miền Bắc Việt Nam) đã ăn thịt chó từ thế kỷ 18, các thư tịch trước đó hiện chưa tra cứu được tục ăn thịt chó của người Việt. Bác sỹ Horcacs có viết trong sách “Một chiến dịch ở Bắc kỳ” . Tác giả là bác sĩ trong đội quân Pháp đánh thành Hà Nội vào cuối thế kỷ 19. Horcacs viết chuyện khi ở Thăng Long -Hà Nội có kể bán thịt chó: “Năm 1883, tôi từ trong thành Hà Nội đi ra chợ Cửa Đông chơi, tôi thấy có quá nhiều người bày bán thịt chó, họ để cả con vàng ươm. Nó được mang từ ngoại ô vào…”.

Tập sách Món ngon Hà Nội, khi đề cập món thịt chó, nhà văn Vũ Bằng đã viết:

” Ngả con cầy ra đánh chén! “Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?”. Thôi thì được ngày nào hãy cứ biết chiều ông thần khẩu ngày ấy đã, sau ra sao sẽ liệu. Ấy thế mà chưa biết chừng ăn một bữa cầy vào, cái vận mình nó lại chuyển hung thành cát, chuyển đen thành đỏ thì lại càng hay, chớ có sao đâu?Thật vậy, thịt cầy ở nước ta không phải là một món ăn như thịt dê, thịt lợn, nhưng nó lại còn là một niềm tin tưởng trong dân gian nữa. Vận đương xúi quẩy, ăn một bữa thịt chó vào, người ta rất có hy vọng giải đen. Đánh bạc thua liền ba đêm, này! Ăn một bữa thịt chó, có người gỡ lại hết cả tiền thua, mà lại còn được thêm là khác. Thử hỏi trong tất cả các món ăn trên thế giới có món ăn nào khả dĩ lại di chuyển được vận hạn của con người đến thế hay không?Nhưng dẫu sao, chuyện di chuyển vận hạn cũng là chuyện của tương lai huyền bí. Nói ngay chuyện thiết thực ở trước mắt mà chơi.” Dù sao, đây mới chỉ là cách viết của một Nhà văn Lãng tử trong đám “Nghiện rượu thịt chó”, chưa lấy gì tin cậy.

Trên website chúng tôi , một bài viết có đoạn với nội dung tương tự: ” Trước tiên đó là thói quen “giải đen” cuối tháng bằng thịt chó. Người Việt kiêng không bao giờ ăn thịt chó vào ngày đầu năm, đầu tháng, song họ tin rằng ăn thịt chó vào những ngày cuối năm, cuối tháng lại có thể xua đi vận đen đủi, “rửa sạch” rủi ro để bước sang năm mới may mắn hơn. Sang đến đầu tháng người ta thường ăn những món ăn như tiết canh với màu đỏ của huyết hi vọng cả tháng sẽ gặp nhiều điềm lành. Thế mới nói, niềm tin về thực phẩm may mắn không chỉ dừng lại ở những món ăn may mắn đó còn là những món ăn giúp xua đi vận hạn, rủi ro. Như thế có thể nói rằng: thịt chó không phải là món ăn truyền thống của người Việt, vì thế việc kiêng cữ ăn thịt chó trong những thời điểm nhất định chắc chắn là do đệ tử của món Cờ tây – Cầy tơ sau này đặt ra mà thôi !”

Tác giả Tôn Thất Thọ viết trong bài: ” Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt” đăng trên Web nghiencuulichsu có nhận xét (lược trích):

“Khoảng thập niên 1930, Hà Nội chỉ mới có 4 hay 5 quán thịt chó. Trong khi đó ở Nam Bộ Việt Nam không có quán nào, gần như không mấy người biết ăn. Nguyên nhân là là vì miền Nam lệ thuộc nhiều vào văn hóa Pháp, họ rất thương chó, dĩ nhiên là họ có đủ mọi phương tiện luật pháp để ngăn cấm. (Nhưng cũng có thể là do chưa có ai bày cách làm thịt chó, nhất là cách dùng các thứ gia vị!). Cũng theo nhà văn này, ở trong Nam, tương tự như món Phở, chỉ biết thưởng thức món thịt chó từ sau phong trào “di cư” 1954 của dân miền Bắc. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức,… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.

Như vậy từ cách ăn thịt chó chưa trở thành trào lưu, phong tục, có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam.

Như vậy có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam, Trung Quốc, thì thế nào cũng lan truyền qua Việt Nam theo đường biên giới. Điều này có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện cho thấy, đa số cư dân ở các vùng ven biển từ Móng Cái- Lạng Sơn chạy dọc theo bờ biển về đến Hải Phòng đều biết ăn và làm thịt Cầy ( có người cho rằng, từ Cầy có lẽ xuất phát từ chữ Cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ, sợ nói thành “thịt Cậu” chăng ?),…”

Người dân bản địa Sài Gòn có nhận xét: ” Những quán thịt chó chỉ xuất hiện lần đầu tiên tại Sài Gòn là vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, và cũng chỉ bó hẹp trong cộng đồng những người Bắc vào Nam lập nghiệp. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức,… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.”

Việc ăn thịt chó tại miền Bắc Việt Nam xuất hiện khi người Trung Quốc chạy sang cư ngụ ở Bắc bộ Việt Nam từ loạn Bạch Liên giáo ở Trung Quốc thời kỳ vua Gia Khánh (1796 – 1820) đến các triều đại Hàm Phong, Đồng trị Nhà Thanh đến loạn Thái Bình Thiên quốc, Thiên địa Hội, loạn Người Mèo và Giáo phái ở Quý Châu, lại còn có Hồng Hiệu, Thanh Hiệu, Bạch hiệu,… mỗi cuộc biến loạn tập hợp được từ vài vạn đến hàng mấy chục vạn quân vì ” Dân thù quan binh hơn thù giặc” . Thêm vào đó các Giáo phái Hồi, Hán, Di đều kêu gọi ” Phản Thanh, Phục Minh”. Lúc đó Trung Quốc thành một chảo lửa khổng lồ, bên trong thì nội chiến, bên ngoài Liên quân năm nước Anh, Đức, Pháp, Nga, Nhật Bản bao vây xâm chiếm. Nạn xâm lăng Trung Quốc mở đầu bằng cuộc chiến Nha Phiến 1838 của Anh với triều đình Mãn Thanh làm Trung Quốc thua trận đầu hàng ký Hiệp ước Nam Kinh 1842, cùng lúc cuộc khởi nghĩa của Thái Bình Thiên Quốc đã làm cho hơn 30 triệu người thương vong. Vùng lãnh thổ trù phú rộng lớn phía nam Trung Quốc trở thành hoang vu. Rất có thể tục ăn thịt chó ở Nam Trung Quốc đã truyền vào miền Bắc Việt Nam thời kỳ loạn lạc, đói kém khủng khiếp này, khi mà ở Trung Quốc có ghi ăn cả thịt người. Thịt Chó do Người Hán chạy loạn sang Bắc Việt được các Giáo sỹ Pháp đã ghi lại trong tự chuyện của họ về sự buôn bán thịt chó ở Thăng Long – Hà Nội.

Ngay ở Nhật Bản, sự truyền bá các giáo lý của Phật giáo Đại thừa, Thiền giáo, Thần đạo nên người Nhật hạn chế ăn thịt chó. Không vì thế mà người Nhật không ăn, thịt chó rất phổ biến ở Nhật-bản Năm 675 sau CN. Chỉ từ khi Hoàng đế Temmu ra chiếu chỉ cấm ăn thịt chó từ tháng 4 cho đến tháng 9 hàng năm vì Temmu khi ra trận thường có chó đi theo. Ngày 17/6/2014 Chính phủ Nhật Bản ban hành Luật về việc cấm ăn thịt chó vì ở đất nước Nhật Bản chó là một con vật linh thiêng và được tôn thờ. Tuy nhiên đến nay giữa phong tục và luật pháp chưa thể triệt để, theo số liệu thống kê năm 2008 Nhật bản vẫn nhập khẩu 5 tấn thịt chó từ Trung quốc, trong khi nhập khẩu thịt bò là 4, 714. Thông tin Du lịch Nhật Bản cho biết: “ Có một nhà hàng tại Ikebukuro, Tokyo có tên là Fun Fun Shop và món ăn Trung Quốc nhưng lại phục vụ khách hàng bằng 7 món thịt chó khác nhau với giá khá cao. Một nồi lẩu thịt chó thịnh soạn 5.000 yên (US$62).Thịt chó rán 2.000 yên (US$25).Súp thịt chó 1.100 yên (US$13).Thịt chó được làm tươi 1.680 yên (US$21).Lẩu thịt chó và đậu hũ 1.600 yên (US$20).Một suất thịt chó 1.800 yên (US$22). Không rõ xuất xứ của những chú chó đến từ đâu. Một vài nguồn tin cho rằng thịt chó được nhập khẩu đông lạnh từ Trung Quốc.” – Trích từ Websit VIETSENSE TRAVEL ngày 26/05/2018.

Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Kết quả khảo cứu thực tiễn hơn 37 năm lại cho thấy trong tất cả các Lễ Hội dân gian cũng như thư tịch cổ ở miền Bắc Việt Nam chưa từng có mâm Lễ nào có món thịt chó, đến ngay mâm cúng giỗ Gia tiên cũng tuyệt đối không có thịt chó. Tra cứu các Giáo lý truyền kỳ mấy nghìn năm thì thịt chó là một trong các điều cấm kỵ của của Đạo Thánh Mẫu Việt. Khi tra cứu về khảo sát Dân tộc học cũng như thư tịch cổ đều không rõ Gs Trần Quốc Vượng căn cứ vào đâu để đưa ra nhận định như vậy? Sau này có nhiều báo chí, bài viết chỉ copy một cách vô thức, đã không đối chiếu khoa học cứ chép nguyên như vậy là một sai lầm tai hại.

Học giả Hoàng Xuân Hãn khi phát hiện sách cổ có ghi các món ăn xưa của người Việt được viết bằng chữ Nôm gọi là Cảo. Cảo ghi chép những món ăn cùng với cách làm các món ăn cách đây hơn 250 năm. Sách được viết vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng nhà Lê (1744). Cảo ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường kí lục“, nghĩa là “ Sách ghi rõ những phép phải khảo khi làm các món ăn“. Nội dung sách cổ này không thấy đề cập gì đến món thịt chó. Theo Bách Khoa Toàn thư mở Wikipia, hiện nay vẫn có 11 vùng lãnh thổ trên thế giới ăn thịt chó, bao gồm: Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, México, Philippines, Polynesia, Đài Loan, Việt Nam, Bắc Cực, Nam Cực, và Thụy Sĩ. Hy vọng trong tương lai gần sẽ tìm thêm được những ghi chép cổ sử về thời gian, nguyên nhân xuất hiện tục ăn thịt chó ở miền Bắc Việt Nam được ghi trong thư tịch cổ của người Việt, của Trung Quốc hoặc của các Nhà truyền giáo Phương Tây hiện lưu giữ tại các thư viện nước ngoài.

Trong hành trình tri ân từ Hà Nội vào Huế, chúng tôi đi viếng các nghĩa trang liệt sĩ và rất may mắn chúng tôi được vào chùa Cam Lộ và gặp Trưởng Ban trị sự Gíao hội PGVN tỉnh Quảng Trị – Hòa thượng Thích Thiện Tấn. Nhiều người nói ông là một Hòa thượng rất uyên thâm, những câu chuyện phức tạp, khó hiểu nhất đều được ông lý giải thật đơn giản và dễ hiểu. Hòa thượng hỏi tôi có sức khỏe không, tôi khẳng định “có” vì tôi vẫn còn trẻ và cũng to cao. Hòa thượng bảo tôi bê một chậu cây cảnh vào và nhấc lên đặt xuống vài ba lần, tôi làm ngay và thấy nó cũng nhẹ thôi.

Nếu Hòa thượng muốn thử sức tôi thì phải lấy cái chậu cảnh to gấp 2 -3 lần thế này mới thể hiện hết sức mạnh của tôi. Hòa thượng nói tôi chắp tay lại nguyện ước được khỏe mạnh, hạnh phúc, được gặp những điều may mắn và nhất là mẹ tôi có sức khỏe sống cùng tôi đến trăm tuổi, sau đó Hòa thượng trì chú vào chậu cây và bảo tôi nhấc lên.Thật kì lạ cái chậu tôi vừa nhấc lên đặt xuống nhẹ như không, bây giờ trở nên nặng trĩu, tôi phải cố gắng lắm lắm mới nhấc lên nổi.

Lúc này tôi cảm thấy đã khâm phục thật sự, nhưng Hòa thượng lại tỏ vẻ không hài lòng, bảo tôi làm đi làm lại vài ba lần. Tôi vẫn có thể nhấc lên được dù rất nặng. Rồi Hòa thượng chợt hỏi tôi: “Có phải con thỉnh thoảng vẫn ăn thịt chó phải không?”

Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời “Có ạ” . Hòa thượng lặng im một lúc rồi Ngài nói rất ân cần: “Đối với người theo đạo Phật thì không bao giờ nên ăn thịt chó, vì chó là bạn thân thiết nhất của con người, canh giữ nhà cửa, vui cùng với chủ, buồn cùng với chủ, là nhân vật đầu tiên mừng rỡ đón ở cửa khi chủ về đến nhà, nhưng tất cả những điều đấy chỉ là lý do nhỏ thôi.”

Rồi Hòa thượng nói tiếp: “Khi con người ốm đau bệnh tật ho lao, khạc đờm, nôn mửa, đại tiện vì những căn bệnh như kiết lỵ, trúng độc, nhiễm khuẩn, chó đều dọn sạch, những thứ đấy đi đâu? Vào bụng nó hóa thành xương thịt nó, máu huyết nó, còn con người lại thích thú khi được ăn thịt chó, mong muốn ăn thịt chó uống tiết canh. Con hãy suy nghĩ kĩ về điều này, có nên ăn thịt chó nữa hay không ?”Sau vài phút suy ngẫm tôi cảm thấy rùng mình, lạnh sống lưng và không phải một mình tôi, cả đoàn ai cũng muốn nôn ói. Tôi hứa với Hòa thượng: Tôi hiểu rằng điều này là tốt cho tôi chứ không phải tốt cho Hòa thượng, lúc này Hòa thượng mới nói: “Con sẽ không bao giờ ăn thịt chó nữa”.

“Con hãy ngửa mặt lên trời và thề nguyện với trời đất không bao giờ ăn thịt chó nữa”. Khi tôi làm xong Hòa thượng nói: “Bây giờ ông chú nguyện mà con vẫn nhấc nổi chậu cây này lên thì chứng tỏ phúc con còn mỏng, đức con còn yếu”.Tất nhiên tôi nghĩ, phúc đức của tôi nó nằm ở đâu đó chứ không nằm ở chậu cây, nhưng lần này thì Hòa thượng có vẻ rất mãn nguyện vì sau khi ông trì chú tôi gắng hết sức đỏ mặt tía tai cũng không thể nhấc nổi cái chậu ấy lên. Thì ra Hòa thượng cân phúc đức bằng việc lấy hết phúc đức của tôi đặt vào chậu cây này, không biết nghĩ gì , nhưng tôi và mọi người hoàn toàn tâm phục khẩu phục Ngài. Chỉ sau mấy lời chú của thầy và một lời thệ nguyện của tôi từ bỏ thịt chó mà chậu cây như nặng hàng trăm cân. Rồi Hòa thượng bảo: “Việc xong rồi thôi cất chậu cây đi”.

Đến đây, tôi nhận thức rằng: ” Lịch sử Dân tộc Việt rất coi trọng Con Chó, vì thế căn cứ vào Sử liệu thì tục ăn Thịt Chó mới chỉ xuất hiện ở miền Bắc Việt nam khoảng những năm 1780 Thế kỷ 18 do một bộ phận Người Hán ở phía Nam Trung Quốc chạy loạn đưa vào” . Vì thế đề xuất cấm mua bán, chế biến, ăn Thịt Chó, Mèo của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội là phục hồi truyền thống Nhân Văn của Dân tộc Việt.

Hà nội, ngày 12 tháng 09 năm 2022

Hướng Dẫn Cách Xử Lý Đúng Khi Bé Bị Côn Trùng Cắn Cho Mẹ Bỉm Sữa

Cách Sơ Cứu Cho Bé Khi Bị Côn Trùng Cắn

Cách Xử Lý Khi Chó Bị Côn Trùng Cắn

Top 3 Mẫu Thiết Kế Nội Thất Gỗ Óc Chó Đẹp Được Yêu Thích Nhất Hiện Nay

Mẫu Tủ Rượu Kính Đẹp Mà Đơn Giản Nhất Năm 2022

Khám Phá Bí Mật Giống Chó Bắc Hà Của Dân Tộc H

Huyền Thoại ‘sói Lửa’ Trên Cao Nguyên Trắng, Chuyện Chưa Từng Kể

Phương Pháp Điều Trị, Phòng Ngừa Chó Bị Rụng Lông Và Ngứa

Phân Biệt 2 Giống Chó Phú Quốc Và Chó Bắc Hà

Thay Lông Sinh Lý Tự Nhiên Của Chó Hay Những Nguyên Nhân Sâu Xa Khôn Lường?

Xích Đu 2 Ghế Cỡ Đại A335

Chó Bắc Hà là giống chó xuất hiện và quen thuộc với cuộc sống của những người dân Việt Nam. Lâu nay, chúng được biết đến với tên gọi chung là chó xù hay chó xồm.

Chó Bắc được xuất hiện ở phía Bắc Việt Nam, làm bạn đồng hành trong những chuyến đi rừng hay nuôi làm chó bảo vệ.

Nguồn gốc giống chó này ở Bắc Hà Lào Cai và được coi là một giống chó quý. Dân tộc H-Mông nuôi chó Bắc Hà để sử dụng vào việc săn thú rừng, canh giấc ngủ đêm.

Theo như kết quả nghiên cứu thì Tỉ lệ chiều dài toàn thân so với chiều cao của chó Bắc Hà vào khoảng 1,2 lần. Đây là một tỉ lệ cân đối và hoàn hảo.

Theo như thống kê thì một chú chó Bắc Hà khi trưởng thành sẽ có chiều cao dao động trong khoảng từ 50cm – 60cm. Tùy thuộc vào đó là giống đực hay giống cái. Con cái cao: Từ 50-55cm, con đực từ 55-60cm.

Cân nặng của giống cảnh khuyển này cũng dao động trong khoảng từ 16-26kg.

Với giống cái, cân nặng có thể tại mức 16-23kg.

Với giống đực, cân nặng sẽ cao hơn một chút: Từ 19-26kg

Phần đầu của giống chó Bắc Hà rất thon gọn. Chúng gây ấn tượng bởi chiếc mõm dài. Một bé cún Bắc Hà bình thường sẽ có chiều dài mõm bằng khoảng 2/3 hoặc bằng chiều dài đầu.

Chiếc mũi của cún Bắc Hà thẳng và dài, trán tròn và khá rộng. Đôi tai của chúng vểnh dựng thành hình tam giác để nhận biết âm thanh một cách nhanh nhạy.

Ưu thế ngoại hình này chính là một trong những lí do vì sao nhiều người lại săn lùng giống cảnh khuyển Bắc Hà đến thế.

Ấn tượng nhất về ngoại hình của giống cảnh khuyển Tây Bắc này phải kể đến bộ lông dài và dày. Cái tên chó xù hay chó xồm mà mọi người vẫn hay gọi chính là bắt nguồn từ đặc điểm ngoại hình.

Một số chú cún Bắc Hà khá đặc biệt khi sở hữu bộ lông cổ dày, dài vồng lên rất giống bờm sư tử. Phần lông ở cổ sẽ tạo thành bờm và tách biệt giữa hai phần thân và đầu của cún. Bờm cổ ở những con đực luôn dài hơn bờm cổ ở con cái.

Tuy nhiên, số lượng chó Bắc Hà có bờm cổ là không nhiều. Đặc điểm này chính là một trong những dấu hiệu cho thấy đây là bé cún Bắc Hà tốt. Đương nhiên giá thành của các bé cũng không rẻ.

Chó Bắc Hà sở hữu một chiếc đuôi có lông xù. Nếu chỉ quan sát mỗi chiếc đuôi xù thì có lẽ khá nhiều người sẽ nhầm tưởng con vật này là loài sóc.

Đó là điều hoàn toàn dễ hiểu bởi chiếc đuôi xù của Bắc Hà có dạng đuôi sóc. Những chú cún có lông đuôi xù như này được cho là có tính phong thủy, là một bé cún Bắc Hà đẹp.

Giống cảnh khuyển Bắc Hà khá đa dạng về màu lông. Người ta thường thấy những chú chó Bắc Hà màu vện, màu vàng, màu trắng, màu đen, màu xám hay màu khoang.

Một số cá thể khá đặc biệt khi sở hữu bộ lông màu hung đỏ. Tuy nhiên, cá thể màu hung đỏ này chỉ được chấp nhận khi đã xem xét kĩ lưỡng, có đầy đủ các yếu tố về màu sắc của mắt, màu sắc của mũi, đặc điểm của môi, lợi và bàn chân.

Việc xem xét kỹ lưỡng nhằm chắc chắn rằng cá thể đó không phải nằm trong nhóm biến dạng nhiễm sắc thể cần phải loại bỏ.

Những cá thể màu hung đỏ tương đối hiếm gặp. Theo kết quả thống kê trung bình khoảng 10 bé cún Bắc Hà mới có 1 bé có màu hung đỏ.

Số lượng hiếm cùng nhiều người có nhu cầu mua Bắc Hà lông xù màu hung đỏ khiến giá của chúng được đẩy lên cao.

Là giống chó trung thành, cảnh giác và có tính ký luật. Đối với người lạ, chó Bắc Hà thuần chủng luôn đề phòng và cảnh giác. Chúng có thể tấn công người lạ bất cứ khi nào cảm thấy bị đe dọa.

Thói Quen Sống: Tập tính nổi bật của giống chó Bắc Hà là thích sống theo bầy đàn. Chúng có tính kỉ luật rất cao, thông minh, nhanh nhạy.

Hơn nữa chúng rất hứng thú với việc được con người huấn luyện.

Chúng có thể trông nhà, giữ của, sử dụng để chăn thả gia súc tránh bị các loài động vật hoang dã trong rừng ăn thịt, đi săn, hay được huấn luyện thành chó nghiệp vụ.

Tuổi Thọ: Tuổi thọ của chó lông xù đạt mức trung bình của hầu hết các giống chó, khoảng từ 12 đến 15 năm. Cá biệt có những trường hợp các chú chó có thể sống tới hơn 20 năm.

Tuy nhiên còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các bệnh di truyền, chế độ ăn uống, tập luyện và môi trường sống. Chó Bắc Hà giống như một thành viên thân thiết của nhiều gia đình.

Chó Phú Quốc Màu Vện, Vàng, Đen Tuyền, Trắng, Bạch Hổ, Không Có Xoáy Màu Nào Đẹp Nhất

Đánh Giá Chó Bắc Hà Lông Xù Xem Là Quốc Khuyển Của Việt Nam

Kinh Nghiệm Nuôi Chó Bắc Hà Thuần Chủng, Tính Cách Đặc Điểm Giống Chó Đẹp Việt Nam

Làm Cách Nào Để Chọn Đúng Giá Chó Bắc Hà Ngay Lập Tức

Chó Mông Cộc Giá Bao Nhiêu Tiền? Mua Ở Đâu Tại Hà Nội & Tp.hcm

Giống Chó Săn Của Quý Tộc Afghan Hound Đầy Kiêu Sa

Chó Săn Basset Giá Bao Nhiêu? Cách Nuôi, Đặc Tính Của Basset

Giống Chó Anatolian Shepherd Dog

Bsca: Giống Chó Chăn Cừu Bỉ Câu Lạc Bộ Của Mỹ, Inc

Chó Chăn Cừu Bỉ: Ảnh Chó, Giá Cả, Mô Tả Giống, Nhân Vật, Video

Chó Becgie Đức (German Shepherd) Giá Bao Nhiêu Tiền? Mua Ở Đâu?

Chúng còn có các tên gọi khác như Tazi, Tāžī Spay, Da Kochyano Spay, Sage Balochi, Ogar Afgan, Chó săn xám phương Đông hay Chó săn xám Ba Tư.

Nguồn gốc

Giống chó Afghan Hound có nguồn gốc từ một giống chó cổ của Afghanistan với sự hiện diện trên những bức tranh của người dân nơi đây từ 4000 năm trước . Đây là một trong những giống chó lâu đời nhất và vẫn giữ được thân hình từ thời xa xưa nên được coi là “Vua của các loài chó”

Năm 1886, chó săn Afghan được du nhập vào Anh và được đăng kí với AKC vào năm 1926 bởi Vương quốc Anh khi chúng đặt chân tới nước Mĩ.

Đặc điểm

Chó Afghan có bề ngoài nhìn chung ấn tượng, đầu luôn ngẩng cao đầy kiêu hãnh, không có dấu vết của sự giản dị hay thô lộ nhưng biểu lộ vẻ trầm ngâm, đôi măt nhìn vào khoảng không

Các đặc điểm nổi bật của giống chó này đó chùm lông trên đầu dài mượt, bộ lông đặc biệt, xương hông rất nổi bật, chân lớn.

Đầu

Một cái đầu dài biểu thị một trí thông minh lớn

Hộp sọ

Một hộp sọ dài không quá hẹp, có xương chẩm lồi cân đối với chóp sọ dài như kiểu thắt nơ.

Có điểm tiếp giáp lượn cong nhẹ giữa mặt và sống mũi.

Khuôn mặt

Mũi

Thường có màu đen, màu nâu đỏ thẫm được chấp nhận với những con chó có màu sáng nhạt.

Sống mũi

Dài, với hàm dẹp sát vào sống mũi.

Hàm/Răng

Hàm khoẻ, với bộ răng hoàn chỉnh, đầy đủ, phát triển tốt và đan chéo nhau như lưỡi kéo (scissor bite), cụ thể: răng hàm trên phủ lên răng hàm dưới, và răng mọc vuông góc với hàm. Mức độ cắn mạnh vừa phải.

Mắt

Màu mắt tối được ưa chuộng hơn, nhưng màu mắt vàng cũng vẫn được chấp nhận. Mắt gần như có hình tam giác, mi mắt trên hơi xếch lên trên.

Tai

Buông thõng và hướng ra phía sau, tai sát vào đầu và được bao phủ bằng lớp lông rất dài và mượt.

Cổ

Cổ dài, mạnh mẽ, đầu ngẩng cao kiêu hãnh.

Thân hình

Cổ

Cổ có chiều dài tốt, mạnh mẽ và cong, đang chạy trong một đường cong vào vai những sợi dài và dốc và cũng đặt lại.

Vai

Vai dài và dốc, chéo về phía sau, rất lực lưỡng và mạnh mẽ nhưng vẫn nhẹ nhàng, không nặng nề.

Lưng

Thẳng, dài vừa phải và rất chắc chắn, mạnh mẽ.

Hông

Thẳng, rộng và hơi ngắn.

Mông

Hơi thấp so với đuôi, Xương chậu nhô ra và mở rộng.

Ngực

Xương sường cong vừa phải và rất sâu.

Đuôi

Bộ đuôi là không quá cao trên cơ thể, có một vòng, hoặc một đường cong trên hết; không bao giờ nên được cong hơn, hoặc phần còn lại trên mặt sau, hoặc được mang sang một bên; và không bao giờ nên rậm rạp.

Tứ chi

Chân trước

Chân trước thẳng, dài và dốc, xương phát triển to, xương chân thẳng với xương vai nếu nhìn từ phía trước.

Khuỷu chân trước

Thẳng đứng sau vai. Sát với lồng ngực, thẳng, không chĩa vào trong cũng không chĩa ra ngoài.

Cổ chân

Dài và đàn hồi, tạo ra bước đi như đang nhún nhẩy.

Chân sau

Mạnh mẽ. Đoạn từ xương chậu đến kheo rất dài nếu so sánh với khoảng cách từ kheo chân đến bàn chân.

Khuỷu chân sau

Rất cong và uyển chuyển

Bàn chân

Bàn chân trước mạnh mẽ và rất to, cả về chiều dài và độ rộng, có lông dài và dày bao phủ. Ngón chân cong. Đệm chân xếp bằng phẳng trên mặt đất. Bàn chân sau dài nhưng không rộng như bàn chân trước, cũng có lông dài và dày bao phủ.

Huyền đề

Thường bị loại bỏ nếu có.

Chó săn Afghan có chuyển động nhẹ nhàng, nhún nhảy với kiểu dáng rất điệu.

Lông

Dài và rất phủ xuống hết lồng ngực, chân trước, chân sau và sườn, hông. Chó trưởng thành có lông ngắn hơn ở phía sau vai và dọc trên lưngI. Lông dài từ trán ra phía sau, với kiểu thắt nơ rất dễ nhận thấy. Phía trước mặt lông ngắn. tai và chân được lông phủ đều, dài. Cổ chân có thể trọc. Lông cần phải để phát triển tự nhiên.

Màu sắc: 9 màu lông

Cùng Danh Mục:

Nội Dung Khác

Đọc Truyện Vương Xin Dừng Bước.

Đọc Oneshot 4: Ánh Sáng Trong Đường Hầm Bóng Tối (H) (Tokkyuger)

Phim Thợ Săn Bóng Đêm (Phần 1)

Phim Thợ Săn Bóng Đêm (Phần 2)

Shadow Hunter Mod Tiền (Money)

Bán Chó Săn Thỏ Beagle Thuần Chủng

Địa Chỉ Bán Chó Giống Tại Tây Ninh

Tải Chó Săn Vàng Hình Nền Hd Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản

Điềm Báo Tiếng Chó Sủa Và Hình Tượng Chó Trong Văn Hóa Tâm Linh

Chỉ Chó Sủa Như Thế Nào 1

Truyện: Quỷ Đế Độc Phi: Đại Tỷ Phế Vật Nghịch Thiên

Beagle là một giống chó săn nhỏ có ngoại hình tương tự như giống chó foxhound (chó săn cáo). Beagle là một giống chó săn bằng mùi hương, được nuôi chủ yếu để săn thỏ rừng (beagling). Sở hữu khứu giác tuyệt vời và bản năng lần theo dấu vết vượt trội, Beagle là giống chó được sử dụng làm chó nghiệp vụ ở sân bay để phát hiện nông sản và thực phẩm bị cấm trên toàn thế giới. Beagle rất thông minh. Nó là vật nuôi phổ biến vì kích thước vừa phải, tính khí tốt và không có các vấn đề sức khỏe di truyền.

Giống chó này được lai giống ở Anh vào khoảng những năm 1830 từ một số giống chó bao gồm: Talbot Hound, North Country Beagle, Southern Hound và có thể cả Harrier.

Beagles đã được mô tả bằng văn học và tranh vẽ thời Elizabeth, và gần đây là bằng phim ảnh, truyền hình và truyện tranh. Chú chó Snoopy trong tập truyện tranh Peanuts được gọi là “chú chó beagle nổi tiếng nhất thế giới”.

Lịch sử

Việc những con chó săn nhỏ được đề cập trong Luật Lâm Nghiệp của Canute đã cứu chúng khỏi sắc lệnh: những con chó có khả năng đuổi bắt loài nai nên bị cắt một chân. Nếu bộ luật này chính xác, những con chó beagle đã có mặt ở Anh trước năm 1016, nhưng có khả năng bộ luật này được viết vào thời Trung cổ để mang lại cảm giác cổ xưa và truyền thống.

Vào thế kỷ 11, William the Conqueror đã mang giống chó săn Talbot đến Anh. Talbot là loài chó săn bằng mùi, chủ yếu có màu trắng, chậm, cổ cao, được lại giống từ loài chó săn Hubert từ thế kỷ thứ 8. Giống chó Talbot ở Anh được lai với Greyhound để giúp chúng nhanh nhẹn hơn. Beagle có nét tương tự với giống chó Harrier và Southern Hound đã tuyệt chủng, mặc dù chúng nhỏ hơn và chậm hơn.

Những con Beagle nhỏ như chiếc găng tay có thể phụ kiện không thể thiếu của chiếc váy các cô gái mặc, và trên cánh đồng chúng sẽ chạy một cách khôn ngoan như kỳ con chó săn khác, chỉ có tiếng động phát ra mới nhỏ như cây sậy đu đưa theo gió.

Các tiêu chuẩn cho Pocket Beagle đã được soạn thảo vào cuối năm 1901; những dòng di truyền này hiện đã tuyệt chủng, mặc dù các nhà nhân giống thời nay đã cố gắng tái tạo sự đa dạng của giống này.

Sự phát triển giống chó hiện đại

Reverend Phillip Honeywood đã thành lập một bầy beagle ở Essex vào những năm 1830 và người ta tin rằng bầy chó này đã trở thành nền tảng cho giống chó hiện đại này. Mặc dù chi tiết cụ thể về dòng giống của bầy chó này không được ghi lại, người ta cho rằng chúng mang đặc điểm của giống North Country Beagle và Southern Hound; William Youatt nghi ngờ rằng Harrier đóng góp phần lớn trong huyết thống của beagle, nhưng chính nguồn gốc của Harrier cũng rất mơ hồ. Theo John Mills trong Thư viện Thể thao năm 1845, những con Beagles của Honeywood nhỏ, cao khoảng 10 inch (25 cm) và có màu trắng tinh khiết. Hoàng tử Albert và Lord Winterton cũng có các bầy Beagle trong khoảng thời gian này, và sự ưu ái của hoàng gia đã khiến mọi người quay lại quan tâm đến giống chó này, nhưng bầy chó của Honeywood được coi là tốt nhất trong ba bầy.

Mặc dù có công phát triển giống chó hiện đại, Honeywood tập trung vào việc sản xuất chó để săn bắn và Thomas Johnson phụ trách việc nhân giống để tạo ra những con chó vừa đẹp vừa có khả năng săn mồi. Hai chủng đã được phát triển: giống lông cứng và giống lông mịn. Giống beagle lông cứng tồn tại cho đến đầu thế kỷ 20, và thậm chí còn có những ghi chép lần tái xuất hiện của chúng tại một cuộc thi chó vào cuối năm 1969, nhưng giống này hiện đã tuyệt chủng, có lẽ đã được hấp thụ vào dòng máu beagle tiêu chuẩn.

Vào những năm 1840, một loại beagle tiêu chuẩn đã bắt đầu phát triển; sự khác biệt giữa North Country Beagle và Southern Hound đã biến mất, nhưng vẫn có sự khác biệt lớn về kích thước, tính tình và độ tin cậy giữa các bầy mới. Năm 1856, “Stonehenge” (bút danh của John Henry Walsh), viết trong Cẩm nang Thể thao Nông thôn Anh, vẫn đang chia beagles thành bốn loại: beagle trung bình; beagle cảnh, beagle cáo (một giống nhỏ hơn, chậm hơn của Foxhound); và beagle lông cứng hoặc terrier beagle – được phân loại là con lai giữa một giống bất kỳ với một trong những giống chó sục Scotland. Stonehenge cũng đưa ra bản mô tả tiêu chuẩn ban đầu: Beagle có kích thước từ 10 inch (hoặc thậm chí ít hơn) đến 15 inch. Về hình dạng, chúng giống với như phiên bản thu nhỏ của giống Southern Hound nhưng với sự gọn gàng và đẹp hơn; và chúng cũng có phong kiểu săn mồi giống với giống chó săn đó.

Đến năm 1887, mối đe dọa tuyệt chủng của giống chó này đã biến mất vì có đến 18 bầy beagle ở Anh. Câu lạc bộ Beagle được thành lập vào năm 1890 và bản tiêu chuẩn giống đầu tiên được đưa ra cùng lúc đó. Vào năm sau đó, “Hiệp hội các bậc thầy về giống chó Harrier và Beagle” được thành lập. Cả hai tổ chức đều có mục tiêu là đẩy mạnh lợi ích cho giống chó này và cả hai đều muốn sản xuất một giống beagle tiêu chuẩn. Đến năm 1902, số lượng bầy đã tăng lên 44.

Xuất khẩu

Beagles xuất hiện ở Mỹ muộn nhất là vào những năm 1840, nhưng những con chó đầu tiên được nhập khẩu chỉ để để săn bắn và có chất lượng khác nhau. Vì Honeywood chỉ mới bắt tay vào công việc nhân giống vào những năm 1830, nên những con chó này không thuộc giống chó hiện đại và chúng được mô tả giống như những con Dachshund chân thẳng với cái đầu yếu, khác với tiêu chuẩn bây giờ. Việc nỗ lực xây dựng một nòi giống chất lượng bắt đầu vào đầu những năm 1870 khi Tướng Richard Rowett từ Illinois nhập một số con chó từ Anh và bắt đầu cho nhân giống. Những chú chó Beagle của Rowett được cho là đã hình thành nên các mẫu tiêu chuẩn đầu tiên tại Mỹ, được tạo bởi Rowett, L. H. Twadell và Norman Ellmore vào năm 1887. Beagle được chấp nhận là một giống chó của Câu lạc bộ chó giống Mỹ (AKC) vào năm 1885. Trong thế kỷ 20, giống chó này đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới.

Sinh sản và nhân giống

Số lượng con con mỗi lứa của Beagle là sáu con. Khi chó mẹ sinh ra những lứa chó con, những con chó con chỉ nặng vài ounce.

Sự nổi tiếng

Khi thành lập, “Hiệp hội các bậc thầy về giống chó Harrier và Beagle” đã tiếp quản một cuộc thi chó thường niên tại Peterborough bắt đầu vào năm 1889 và Câu lạc bộ Beagle ở Anh đã tổ chức cuộc thi đầu tiên vào năm 1896. Việc giống chó này xuất hiện thường xuyên đã dẫn đến sự phát triển của một loại diện mạo được yêu thích, và beagle tiếp tục tiếp nối sự thành công cho đến khi Thế chiến I bùng nổ và tất cả các cuộc thi bị tạm hoãn. Sau chiến tranh, giống chó này một lần nữa phải đấu tranh để sinh tồn ở Anh: con cuối cùng của giống Pocket Beagle có lẽ đã chết trong thời gian này và số lượng đăng ký giảm xuống mức thấp nhất mọi thời đại. Một vài nhà nhân giống (đặc biệt là Reynalton Kennels) đã tìm cách hồi sinh sự yêu thích của công chúng với giống chó này và trong Thế chiến II, giống chó này lại trở nên nổi tiếng. Số lượng đăng ký một lần nữa sau khi chiến tranh kết thúc nhưng phục hồi gần như ngay lập tức.

Là một giống chó thuần chủng, Beagle luôn được ưa chuộng ở Mỹ và Canada hơn ở quê hương Anh. Câu lạc bộ Beagle Quốc gia của Mỹ được thành lập vào năm 1888 và đến năm 1901, một chú chó beagle đã giành được danh hiệu Best in Show. Cũng giống như ở Anh, các hoạt động trong thời kỳ Thế chiến I được giữ ở mức tối thiểu, nhưng giống chó này cho thấy sự hồi sinh mạnh mẽ hơn nhiều ở Mỹ khi chiến tranh chấm dứt. Vào năm 1928, giống chó đã giành được một số giải thưởng trong cuộc thi của Westminster Kennel Club (Câu lạc bộ chó giống Westminster) và đến năm 1939, một chú chó Beagle có tên là Champion Championlark Draraftman – đã giành được danh hiệu Chú chó Xuất sắc nhất nước Mỹ của năm. Vào ngày 12 tháng 2 năm 2008, một chú chó beagle tên là K-Run’s Park Me In First (Uno) đã giành chiến thắng ở hạng mục Best In Show tại cuộc thi của Westminster Kennel Club lần đầu tiên trong lịch sử. Ở Bắc Mỹ, chúng đã liên tục nằm trong top 10 những giống chó phổ biến nhất trong hơn 30 năm. Từ năm 1953 đến 1959, beagle được xếp hạng 1 trong danh sách các giống chó đã đăng ký của Hiệp hội chó giống Mỹ (the American Kennel Club); năm 2005 và 2006, nó đứng thứ 5 trong số 155 giống chó đã đăng ký. Ở Anh, chúng không quá nổi tiếng: xếp thứ 28 và 30 trong bảng xếp hạng các giống chó đã đăng ký với Câu lạc bộ chó giống trong năm 2005 và 2006. Tại Mỹ, Beagle xếp thứ 4 các giống phổ biến nhất vào năm 2012 và 2013, sau Labrador Retriever (#1), German Shepherd (#2) và Golden Retriever (#3).

Tên gọi

Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, từ beagle lần đầu tiên được đề cập trong văn học Anh vào khoảng năm 1475 trong Squire of Low Degree. Nguồn gốc của từ “beagle” không rõ ràng, mặc dù có ý kiến cho rằng từ này xuất phát từ tiếng Pháp.

Chưa rõ lý do tại sao Kerry Beagle đen và nâu xuất hiện ở Ireland kể từ thời Celtic, và nó được miêu tả cao khoảng từ 22 đến 24 inch (56 đến 61 cm), nó cao hơn đáng kể so với beagle thời hiện đại, và có thể to hơn trong các thời kỳ trước đó. Một số tác giả cho rằng khả năng đánh hơi của beagle có thể đến từ các giống lai trước đó với Kerry Beagle. Ban đầu chúng được sử dụng để săn hươu, và ngày nay được sử dụng để săn thỏ và bộ môn thể thao săn bắn.

Đặc điểm

Ngoại hình

Ngoại hình của beagle giống như phiên bản nhỏ của giống Foxhound, nhưng đầu rộng hơn và mõm ngắn hơn, biểu cảm hoàn toàn khác biệt và đôi chân ngắn hơn so với cơ thể. Chúng thường cao từ 13 đến 16 inch (33 đến 41 cm) và nặng từ 18 đến 35 lb (8.2 đến 15.9 kg); và trung bình, con cái nhỏ hơn con đực một chút.

Chúng có hộp sọ nhẵn, hơi vòm với mõm vuông, dài và mũi màu đen (hoặc đôi khi là màu nâu đậm). Hàm khỏe và hai hàm răng trên và dưới khớp hoàn hảo và vuông góc với hàm. Đôi mắt to, màu lục nhạt hoặc nâu, với một cái nhìn khẩn khoản giống như chó săn. Đôi tai lớn dài, mềm mại và thấp, hơi hướng về phía má và tròn ở đầu mút. Beagle có chiếc cổ mạnh mẽ, độ dài trung bình (đủ dài để chúng dễ dàng cúi xuống đất để đánh hơi mùi hương), với một ít nếp gấp trên da gần giống yếm; một bộ ngực rộng, thu hẹp dần xuống bụng và eo thon và một cái đuôi dài, hơi cong (được gọi là “đuôi tàu”) có đỉnh màu trắng. Phần đuôi trắng được gọi là lá cờ – đặc điểm đã được lai tạo có chọn lọc, giúp con người dễ dàng nhìn thấy chúng khi chúng cúi đầu xuống đánh hơi. Đuôi không cong lên phía lưng, nhưng được dựng thẳng khi chúng hoạt động. Beagle có thân hình cơ bắp và bộ lông dài vừa phải và mịn. Chân trước thẳng còn chân sau thì cơ bắp và uốn cong khuỷu chân sau.

Màu sắc

Beagle tam thể – lông màu trắng với mảng lớn lớn màu đen và phần viền màu nâu nhạt là phổ biến nhất. Beagles tam thể có rất nhiều bộ màu, từ “Tam thể điển hình” với mảng lông trên lưng màu đen tuyền (còn được gọi là “Blackback”), đến “Tam thể đậm màu” (trong đó các vệt màu nâu mờ nằm xen kẽ với các vệt đen nổi bật hơn), “Tam thể nhạt màu” (trong đó các vệt đen mờ xen kẽ với các vệt nâu nổi bật hơn). Một số con chó tam thể có màu lông không theo những hình thái trên, được gọi là màu “pied” (khoang). Những con chó này có bộ lông nền màu trắng với những mảng lông đen và nâu. Beagle tam thể hầu như luôn luôn có màu màu đen và trắng. Các vùng lông màu trắng thường được hình thành khi tám tuần tuổi, nhưng các vùng lông màu đen có thể mờ dần sang màu nâu khi chó con trưởng thành. (Những vùng lông màu nâu có thể mất từ một đến hai năm để phát triển đầy đủ.) Một số con có bộ lông đổi màu theo năm tháng và màu đen có thể biến mất hoàn toàn.

Màu lông nhị thể luôn có màu nền trắng với các mảng màu thứ hai. Nâu nhạt và trắng là màu lông nhị thể phổ biến nhất, nhưng có một loạt các tổ hợp màu khác bao gồm màu vàng chanh, màu nâu rất nhạt; đỏ, đỏ cam, nâu; và nâu sẫm, màu nâu đen và đen. Màu nâu sẫm không phổ biến và một số nơi không coi đó là màu tiêu chuẩn và nó thường xuất hiện cùng với mắt màu vàng. Lông đốm có thể có màu trắng hoặc đen với các đốm màu khác nhau, chẳng hạn như beagle đốm xanh: có những đốm có màu xanh tím than tương tự như màu của giống Bluetick Coonhound. Một số con beagle tam thể cũng có những chấm màu khác nhau ở vùng lông màu trắng của chúng.

Khứu giác

Giống như giống Bloodhound và Basset Hound, beagle có một trong những giống chó có khứu giác phát triển nhất. Vào những năm 1950, John Paul Scott và John Fuller bắt đầu một nghiên cứu kéo dài 13 năm về hành vi của chó. Là một phần của nghiên cứu này, họ đã kiểm tra khả năng đánh hơi của nhiều giống chó khác nhau bằng cách đưa một con chuột vào một cánh đồng rộng một mẫu và tính thời gian những con chó cần để tìm thấy nó. Beagle đã tìm thấy con chuột trong vòng chưa đầy một phút, trong khi Fox Terrier mất 15 phút và Scotland Terrier không tìm thấy nó. Beagle nhận biết mùi hương trên mặt đất tốt hơn (theo dấu mùi hương trên mặt đất) so với ngửi trong không khí, và vì lý do này, chúng đã bị loại khỏi hầu hết các đội cứu hộ trên núi và thay bằng các giống collie, vì chúng sử dụng sử dụng cả khả năng quan sát và khứu giác và dễ bảo hơn. Đôi tai dài và đôi môi lớn của beagle có thể hỗ trợ trong việc giữ lại những mùi hương gần mũi.

Sự biến thể

Biến thể giống

Câu lạc bộ Chó giống Mỹ chia giống beagle thành hai loại: loại 13 inch cho chó săn nhỏ hơn 13 inch (33 cm) và 15 inch cho những con từ 13 đến 15 inch (33 đến 38 cm). Câu lạc bộ Chó giống Canada công nhận một loại duy nhất, với chiều cao không quá 15 inch (38 cm). Câu lạc bộ Chó giống (Anh) và các câu lạc bộ liên kết với FCI (Tổ chức giống chó thế giới) công nhận một loại duy nhất, với chiều cao từ 13 đến 16 inch (33 đến 41 cm).

Những giống lai ở Anh và Mỹ đôi khi cũng được biết tới. Tuy nhiên, không có sự công nhận chính thức từ bất kỳ Câu lạc chó giống nào cho sự khác biệt này. Những chú chó Beagle phù hợp với tiêu chuẩn Câu lạc bộ Chó giống Mỹ (không cao quá 15 inch (38 cm)) nhỏ hơn những con phù hợp với tiêu chuẩn Câu lạc bộ Chó giống Anh(có thể cao đến 16 inch (41 cm)).

Chủng Patch Hound được nhân giống bởi Willet Randall và gia đình từ năm 1896 vì khả năng săn thỏ của chúng. Huyết thống của chúng có thể bắt nguồn từ Field Champion Patch, nhưng không nhất thiết phải có dấu hiệu của giống này.

Giống lai

Vào những năm 1850, Stonehenge đã khuyên nên sử dụng giống lai giữa Beagle và Scotland Terrier làm chó tha mồi. Anh ta nhận thấy giống lai này làm việc hiệu quả, yên lặng và ngoan ngoãn, nhưng có một nhược điểm là nó nhỏ và gần như không thể tha được thỏ rừng.

Gần đây, “designer dogs” (chó lai)chính là xu hướng mới và một trong những giống phổ biến nhất là con lai của Beagle và Pug được gọi là Puggle. Một vài con thuộc giống chó này không nghịch như Beagle và không cần vận động nhiều giống Pug; nhưng nhiều vẫn dễ bị kích động và cần hoạt động nhiều.

Bản tính

Beagle có tính cách bình tĩnh và nhẹ nhàng. Chúng được mô tả trong một số tiêu chuẩn giống là “vui vẻ”, chúng đáng yêu và thường không hung dữ cũng không rụt rè, mặc dù điều này phụ thuộc vào từng cá thể. Chúng thích ở cùng con người, và mặc dù ban đầu chúng có thể không thân thiện với người lạ, nhưng chúng rất dễ làm thân. Chính vì lý do này nên chúng không thể làm chó gác, mặc dù chúng có khuynh hướng sủa hoặc hú khi đối mặt với những người không quen. Trong một nghiên cứu năm 1985 được thực hiện bởi Ben và Lynette Hart, beagle được đánh giá là có tính cách dễ bị khích động nhất, cùng với Yorkshire Terrier, Cairn Terrier, Miniature Schnauzer, West Highland White Terrier và Fox Terrier.

Beagle rất thông minh, vì được nhân giống để rượt đuổi quãng đường dài nên chúng rất tập trung và quyết đoán, điều này có thể khiến chúng khó huấn luyện. Khó có thể gọi chúng quay lại khi chúng bắt được mùi, và chúng dễ bị phân tâm bởi mùi xung quanh. Chúng thường không tham gia những vòng thi obedience (vâng lời); tuy chúng rất tỉnh táo, đáp ứng tốt việc huấn luyện khen thưởng bằng đồ ăn và có mong muốn làm hài long chủ, chúng lại rất dễ chán hoặc mất tập trung. Chúng được xếp hạng thứ 72 trong cuốn The Intelligence of Dogs của Stanley Coren, vì Coren xếp chúng trong nhóm có mức độ trí khôn lao động /vâng lời thấp nhất. Tuy nhiên, thang điểm của Coren không đánh giá sự hiểu biết, tính độc lập hoặc sáng tạo.

Beagle rất phù hợp với trẻ em và đây là một trong những lý do chúng đã trở thành vật nuôi gia đình phổ biến. Nhưng vì beagle là loài quen sống theo bầy đoàn nên chúng dễ mắc phải chứng lo lắng phân tách, khiến chúng phá hủy mọi thứ khi không được chăm sóc. Không phải tất cả các con beagle đều hú, nhưng hầu hết chúng sẽ sủa khi đối mặt với các tình huống lạ, và một số sẽ rú lên (còn được gọi là “nói”, “uốn lưỡi” hoặc “mở miệng”) khi chúng bắt gặp mùi hương của con mồi tiềm năng. Chúng cũng thường rất hợp với mèo và những con chó khác. Chúng không quá đòi hỏi về việc tập thể dục; do sức chịu đựng cao nên chúng không dễ dàng mệt mỏi khi tập thể dục, nhưng chúng cũng không cần phải hoạt động đến kiệt sức trước khi nghỉ ngơi. Tập thể dục thường xuyên giúp tránh tăng cân – triệu chứng giống chó này dễ mắc phải.

Sức khỏe

Tuổi thọ của beagle là khoảng từ 12 đến 15 năm và là mốc phổ biến của những giống chó có cùng kích thước.

Beagle dễ bị động kinh, nhưng có thể được kiểm soát bằng thuốc. Chúng có thể bị suy giáp và bệnh lùn tuyến yên. Hai triệu chứng mà giống chó dễ gặp phải là “Funny Puppy” – chó con chậm phát triển và khi trưởng thành có chân yếu, lưng vẹo và mặc dù khỏe mạnh bình thường và dễ mắc một số bệnh; và Hội chứng Musladin-Lueke: mắt bị xếch và các ngón chân bên ngoài kém phát triển nhưng các bộ phận khác phát triển bình thường. Chứng loạn sản xương hông thường gặp ở Harrier và ở một số giống lớn hơn nhưng hiếm khi được phát hiện ở beagle. Beagle được coi là một giống chondrodystrophic, có nghĩa là chúng dễ bị các loại bệnh đĩa đệm.

Trong một số ít trường hợp, beagle có thể bị viêm khớp đa gen qua trung gian miễn dịch (hệ thống miễn dịch tấn công các khớp) ngay cả khi còn bé. Các triệu chứng đôi khi có thể thuyên giảm bằng phương pháp điều trị steroid. Một bệnh hiếm gặp khác ở giống này là suy sản tiểu não. Những con con bị bệnh này sẽ trở nên chậm chạp, khả năng phối hợp kém, hay ngã và dáng đi không bình thường. Tỉ lệ mang bệnh ước tính vào khoảng 5% và tỷ lệ bị ảnh hưởng là 0,1%. Có thể làm kiểm tra gen để phát hiện bệnh.

Vì đôi tai mềm và gập xuống nên tai trong không nhận được nhiều không khí hoặc không khí trong tai trở nên ẩm và điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng tai. Beagle cũng có thể bị ảnh hưởng bởi một loạt các vấn đề về mắt; hai loại bệnh về mắt phổ biến ở beagle là bệnh tăng nhãn áp và loạn dưỡng giác mạc. Bệnh mộng mắt – sự phát triển của tuyến mí mắt thứ ba và chứng loạn sắc tố, một tình trạng lông mi mọc vào mắt gây ra kích ứng, đôi khi cũng xuất hiện ở giống chó này; cả hai chứng bệnh này có thể chữa bằng cách phẫu thuật. Chúng có thể bị một số triệu chứng teo võng mạc. Tuyến lệ không hoạt động tốt có thể gây khô mắt hoặc chảy nước mắt.

Là chó lao động ngoài trời, chúng dễ bị thương nhẹ như trầy xước và bong gân, và nếu không hoạt động, chúng sẽ dễ trở nên béo phì vì chúng sẽ ăn bất cứ khi nào có thức ăn và dựa vào chủ phải là người điều chỉnh cân nặng của chúng. Khi làm việc hoặc chạy tự do, chúng cũng có khả năng bị ký sinh trùng như bọ chét, ve, ve mò và sán dây và các vật có thể gây kích ứng như hạt cỏ có thể bị mắc trong mắt, tai hoặc bàn chân.

Beagle có thể có biểu hiện được gọi là hắt hơi ngược, khi đó chúng có vẻ như bị nghẹn hoặc thở hổn hển, nhưng thực sự là hút không khí qua miệng và mũi. Nguyên nhân của biểu hiện này chưa được xác định, nhưng nó cũng khá phổ biến và không gây hại.

Săn bắt

Beagle được nhân giống chủ yếu để săn thỏ rừng – một hoạt động được gọi là “beagling”. Chúng được xem là người bạn đồng hành lý tưởng cho mọi đối tượng. Trước sự ra đời lối săn cáo thời thượng vào thế kỷ 19, săn bắn là một hoạt động kéo dài cả ngày, nơi sự thích thú bắt nguồn từ cuộc rượt đuổi chứ không phải là giết chóc. Vì vậy, một con beagle nhỏ rất phù hợp với cuộc săn thỏ rừng, vì không giống như Harrier, chúng sẽ không nhanh chóng kết thúc cuộc săn, nhưng vì kỹ năng theo dõi mùi hương tuyệt vời và sức chịu đựng của chúng, chúng gần như chắc chắn sẽ bắt được con mồi. Các bầy beagle sẽ chạy sát nhau (“gần đến mức chúng có thể được che bằng một tấm vải”), phù hợp với một cuộc đi săn dài, vì nó ngăn những con chó đi tách đoàn che khuất đường mòn. Với những cuộc đi săn gà lôi ở địa hình cây bụi dày, giống Spaniel được sử dụng nhiều hơn Beagle.

Khi những cuộc đi săn ngắn trở thành trào lưu, beagle không được ưa chuộng trong các cuộc săn thỏ rừng nữa, nhưng vẫn được sử dụng để săn thỏ. Trong cuốn Anecdotes of Dogs (1846), Edward Jesse viết:

Khi săn thỏ trong địa hình dày cây cối, beagle là một lựa chọn phù hợp nhất. Chúng dễ dàng bắt được tiếng động trong khoảng cách xa và địa hình dày đặc. Chúng được gọi là thỏ-beagle vì chúng đặc biệt giỏi công việc này, đặc biệt là những con chó có lông cứng.

Ở Mỹ, chúng dường như được sử dụng chủ yếu để săn thỏ từ những ngày đầu đặt chân đến đây. Săn thỏ bằng beagle trở nên phổ biến trở lại ở Anh vào giữa thế kỷ 19 và tiếp tục cho đến khi nó bị coi là bất hợp pháp ở Scotland bởi Đạo luật Bảo vệ Động vật Hoang dã (Scotland) năm 2002 và ở Anh và Wales bởi Đạo luật Săn bắn 2004. Theo đạo luật này, beagle vẫn có thể đuổi bắt thỏ với sự cho phép của địa chủ. Bộ môn “drag hunting” trở nên phổ biến khi việc săn bắn bị cấm hoặc đối với những người chủ không muốn tham gia săn bắn động vật sống, nhưng vẫn muốn luyện tập cho những con chó của họ những kỹ năng bẩm sinh.

Theo truyền thống, một bầy sẽ bao gồm tới 40 con beagle, được điều khiển và chỉ đạo bởi một Huntsman (thợ săn) và một vài người thợ phụ cầm theo roi để điều hướng những con chó tách đoàn. The Master of the Hunt (Chủ nhân Cuộc săn bắt) sẽ chịu trách nhiệm tổng thể bầy chó hàng ngày, và có thể đảm nhận vai trò của Huntsman trong ngày săn bắn hoặc không.

Vì săn bắt bằng beagle được xem là lý tưởng cho những người trẻ tuổi, nhiều trường công lập ở Anh có truyền thống nuôi các bầy beagle. Các cuộc biểu tình đã được tổ chức để chống lại việc sử dụng beagle của trường Eton vào đầu năm 1902 nhưng truyền thống này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và bầy chó của trường đại học Imperial ở Wye, Kent đã bị Mặt trận Giải phóng Động vật đánh cắp vào năm 2001. Các trường vẫn duy trì truyền thống này bao gồm: Eton, Marlborough, Wye, Radley, Đại học Nông nghiệp Hoàng gia và Christ Church ở Oxford.

Ngoài việc sử dụng trong beagling, beagle đã được sử dụng để săn bắn hoặc xả súng (thường theo cặp) một loạt các loài động vật bao gồm thỏ tuyết, thỏ đuôi bông, các giống gà, hoẵng, hươu đỏ, linh miêu, chó sói, lợn rừng và cáo và thậm chí đã được ghi nhận là được sử dụng để săn chồn ecmin. Trong hầu hết các trường hợp này, beagle được sử dụng như một con chó nhặt mồi, nhặt những con thú bị bắn chết.

Chó nghiệp vụ

Beagles được sử dụng làm chó nghiệp vụ trong Lữ đoàn Beagle thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ. Những con chó này được sử dụng để phát hiện các mặt hàng thực phẩm trong hành lý được đưa vào Mỹ. Sau khi thử nghiệm một số giống chó, beagle đã được chọn vì chúng tương đối nhỏ và hiền lành, phù hợp với những người không thích chó, dễ chăm sóc, thông minh và thích làm tốt nhiệm vụ để nhận phần thưởng. Chúng cũng được sử dụng làm chó nghiệp vụ ở một số quốc gia khác, bao gồm Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp ở New Zealand, Dịch vụ Kiểm tra và Kiểm dịch Úc, và ở Canada, Nhật Bản và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các giống lớn hơn thường được sử dụng để phát hiện chất nổ vì công việc này cần phải trèo qua hành lý và trên băng chuyền lớn, không phù hợp với giống Beagle vì kích thước nhỏ bé của chúng.

Thí nghiệm

Beagle được sử dụng trong một loạt các quy trình nghiên cứu: nghiên cứu sinh học cơ bản, nhân y dược ứng dụng, thú y dược ứng dụng và bảo vệ con người, động vật hoặc môi trường. Trong số 8.018 con chó được sử dụng trong việc thử nghiệm ở Anh năm 2004, có 7,799 con là beagle (97,3%). Ở Anh, Đạo luật Động vật (Quy trình Khoa học) năm 1986 đã công bố tình trạng đặc biệt cho các loài linh trưởng, ngựa, chó và năm 2005, Ủy ban Quy trình Động vật (được thiết lập bởi đạo luật) đã ra phán quyết rằng thử nghiệm trên chuột là thích hợp hơn, mặc dù các loài khác có số lượng tham gia lớn hơn. Trong năm 2005, beagle đã tham gia ít hơn 0,3% trong tổng số thí nghiệm trên động vật ở Anh, nhưng trong số 7670 thí nghiệm được thực hiện trên chó thì có 7406 ca sử dụng beagle (96,6%). Hầu hết chúng được nhân giống bởi các công ty như Harlan với mục đích thí nghiệm. Ở Anh, các công ty nhân giống động vật phục vụ nghiên cứu phải được cấp phép theo Đạo luật Động vật (Quy trình khoa học).

Việc thử nghiệm các sản phẩm mỹ phẩm trên động vật bị cấm ở các quốc gia thành viên của Cộng đồng châu Âu cho dù Pháp phản đối lệnh cấm và đã nỗ lực để dỡ bỏ nó.Quy trình này được cho phép ở Mỹ nhưng không bắt buộc có thể kiểm định bằng các phương pháp khác và các loài động vật dùng để thử nghiệm không được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) nêu rõ. Khi kiểm tra độc tính của phụ gia thực phẩm, chất gây ô nhiễm thực phẩm, và một số loại thuốc và hóa chất, FDA sử dụng beagle và heo cảnh để thử nghiệm thay thế cho con người. Minnesota là tiểu bang đầu tiên ban hành luật tự do cho Beagle vào năm 2014, chó và mèo sau khi hoàn thành thí nghiệm có thể được nhận nuôi.

Các nhóm phản đối thí nghiệm trên động vật đã báo cáo về việc lạm dụng động vật tại các cơ sở thí nghiệm. Năm 1997, đoạn phim bí mật được quay bởi một nhà báo tự do bên trong tổ chức Huntingdon Life Science ở Anh cho thấy các nhân viên đấm và quát mắng những chú chó beagle. Consort Kennels, một trụ sở nhân giống beagles phục vụ cho việc thí nghiệm tại Anh đã đóng cửa vào năm 1997 vì bị áp lực từ các nhóm bảo vệ động vật.

Những vai trò khác

Mặc dù được nhân giống để phục vụ mục đích săn bắn, Beagle rất đa năng và ngày nay được sử dụng cho nhiều vai trò khác như chó nghiệp vụ, trị liệu và làm vật nuôi trong gia đình.

Beagle được sử dụng làm chó đánh hơi để phát hiện mối ở Úc, và có thể phát hiện ma túy và thuốc nổ. Do bản chất hiền lành và ngoại hình thân thiện, chúng cũng thường được sử dụng trong hoạt động trị liệu bằng thú cưng, thăm bệnh nhân và người già trong bệnh viện. Vào tháng 6 năm 2006, một con chó hỗ trợ giống Beagle được huấn luyện đã được ghi nhận là đã cứu mạng chủ của nó sau khi sử dụng điện thoại di động của chủđể quay số khẩn cấp. Sau hậu quả của trận động đất ở Haiti năm 2010, một chú chó tìm kiếm và cứu hộ là Beagle với đội cứu hộ Colombia đã giải cứu chủ sở hữu của khách sạn Hôtel Montana sau 100 giờ bị chôn vùi trong đống đổ nát. Beagle được thành phố New York thuê để giúp phát hiện rệp, trong khi những con chó có cùng chức năng này không được chọn.

Trong văn hóa

Cựu Tổng thống Mỹ Lyndon Baines Johnson sở hữu một vài con beagle và hành động ông nắm tai nhấc chúng lên trong một sự kiện chính thức trên bãi cỏ Nhà Trắng đã gây ra một làn sóng phản đối.

Con tàu có tên là “HMS Beagle”mà Charles Darwin dùng trong chuyến đi đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác nên “On the Origin of Species” được đặt tên theo tên của giống chó này, và sau đó là con tàu xấu số của Anh đổ bộ vào sao Hỏa -“Beagle 2”.

Một con chó Beagle Mỹ đực 15 inch được đăng ký dưới cái tên Ch K-Run’s Park Me In First và thường được gọi là “Uno” đã giành chiến thắng tại Westminster Kennel Club Dog Show(Cuộc thi chó của câu lạc bộ Westminster) năm 2008.

Một con chó Beagle Canada cái 15 inch đượcđăng ký dưới cái tên Gr Ch Tashtins Lookin For Trouble và thường được gọi là “Miss P” đã giành chiến thắng tại Westminster Kennel Club Dog Show (Cuộc thi chó của câu lạc bộ Westminster) năm 2022.

Những chú chó Beagle nổi tiếng

Chú chó Frodo được trao Huy chương vàng PDSA vì sự dũng cảm

Uno, chú chó Beagle đầu tiên giành chiến thắng tại Westminster Kennel Club Dog Show năm 2008

Miss P, chú chó chiến thắng Westminster Kennel Club Dog Show 2022

Chó Beagle ( Chó Săn Thỏ)

Chó Săn Thỏ Beagles Nuôi Như Thế Nào? Giá Bao Nhiêu? Mua Ở Đâu?

Mua Bán Chó Beagle. Giới Thiệu Chó Beagle, Cách Nuôi Và Cách Chăm Sóc

Đọc Truyện Sói Săn Mồi

Chó Săn Azawakh Từ Sa Mạc Sahara

🌟 Home
🌟 Top