Xu Hướng 2/2024 # Bệnh Dịch Hạch Ở Chó # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bệnh Dịch Hạch Ở Chó được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Dhrhm.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis ở chó

Bệnh dịch hạch là bệnh nhiễm khuẩn nguyên nhân do khuẩn ký sinh trùng chi Yersinia pestis gây nên. Tình trạng này xảy ra trên toàn thế giới. Ở Mỹ, khuẩn ký sinh trùng này hay tìm thấy ở vùng tây nam giữa những tháng 05 và 10. Vật chủ mang bệnh là chuột cống, sóc và chuột nhắt.

Vi khuẩn di chuyển nhanh chóng đến các hạch bạch huyết, nơi tế bào bạch cầu được sản sinh. Kết quả là tế bào bạch cầu nhân lên nhanh chóng, hạch bạch huyết có dịch và sưng lên và có thể làm rạn nứt da. Những con chó bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch sẽ bị sốt, viêm, và rất đau do các hạch bạch huyết bị sưng trong thời gian dài.

Bệnh này hiếm xảy ra ở chó do chúng có xu hướng có tính kháng cao với vi khuẩn loại này. Tuy nhiên, tất cả các loài hoặc giống chó đều có khả năng mắc bệnh như nhau.

Mặc dù rất hiếm khi xảy ra nhưng dịch hạch có thể lây truyền sang cho con người, và do vậy cần phải cẩn thận để tránh bọ chét và tiếp xúc với dịch cơ thể từ con vật bị nghi ngờ bị nhiễm vi khuẩn Yersinia.

Mèo cũng có thể bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh dịch hạch này. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm thông tin về ảnh hưởng của bệnh này đến loài mèo, hãy truy cập vào trang này.

Triệu chứng

Giai đoạn ủ bệnh thông thường với thể hạch là khoảng bảy ngày sau khi con vật bị đốt. Trong trường hợp con vật nhiễm dịch hạch thể phổi, thì phổi sẽ bị nhiễm trùng; và với thể nhiễm khuẩn huyết, thì xuất hiện các triệu chứng giống như ở thể hạch, cùng với xuất hiện tình trạng nhiễm trùng máu toàn thân.

Nguyên nhân

Vi khuẩn Yersinia truyền sang chó khi nó bị bọ chét mang mầm bệnh cắn hoặc khi nó ăn con vật gặm nhấm bị nhiễm khuẩn Yersinia. Một nguyên nhân khác có khả năng gây bệnh là từ môi trường sống của chính con vật đó.

Nếu nhà có nhiều bọ chét hoặc chủ nuôi sống gần vùng hoang dã, nơi chú chó tiếp xúc với loài vật gặm nhấm thì nó có nguy cơ cao bị mắc bệnh dịch hạch. Rác thải, củi và nguồn thức ăn cũng có thể là nguồn gây bệnh.

Chẩn đoán

Bác sỹ thú y sẽ tiến hành chẩn đoán đánh giá tổng thể cho chú chó của bạn, bao gồm các mẫu máu, mẫu nuôi cấy dịch, xét nghiệm thận và gan nhằm đưa ra chẩn đoán xác định. Hệ thống hạch bạch huyết bị sưng là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy con vật đang bị nhiễm khuẩn và các xét nghiệm máu sẽ cho thấy mức độ các tế bào bạch cầu xuất hiện giữa những chất khác, đây được xem là công cụ hỗ trợ để nhận diện vi khuẩn gây bệnh dịch hạch.

Kiểm tra sức khỏe toàn diện cho chú chó sẽ được tiến hành nhằm kiểm tra khu vực bị sưng quanh cổ và đầu, gan và thận, và kiểm tra các dấu hiệu của việc mất nước, sốt, nhiễm trùng phổi hoặc bất kỳ điều gì khác có thể đưa đến kết luận chắc chắn rằng dịch hạch là nguyên nhân làm cho chú chó của bạn bị ốm.

Thuốc sẽ được kê để điều trị các triệu chứng của bệnh, và nếu chú chó của bạn đã được xác định là mắc bệnh dịch hạch hoặc bị nghi ngờ mắc bệnh thì nó sẽ bị cách ly cho đến khi tình trạng này được giải quyết.

Bạn cần phải đưa lịch sử bệnh chi tiết về tình trạng sức khỏe của chú chó của bạn cho bác sỹ thú y, bao gồm các triệu chứng bệnh nền, và các tình huống đã xảy ra có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng này.

Điều trị

Chú chó của bạn cần được nhập viện để được điều trị các triệu chứng nghiêm trọng hơn của bệnh và sẽ được điều trị hoàn toàn bằng thuốc kháng sinh. Nếu con vật bị yếu đi và bị mất nước, lúc này nó sẽ cần được truyền dịch tĩnh mạch để giúp bù nước. Bọ trét cũng cần được xử lý. Với những con chó không được điều trị sớm và hiệu quả thì tỉ lệ tử vong sẽ cao.

Chăm sóc

Điều cần làm là kiểm soát bọ chét và loài vật gặm nhấm. Hiện tại chưa có kế hoạch tự kiểm soát căn bệnh này tại nhà, tất cả các trường hợp bị nghi ngờ là nhiễm khuẩn gây bệnh dịch hạch cần phải được báo ngay cho bác sỹ thú y. Tuy nhiên, giữ cho căn nhà không có bọ chét, giữ rác thải, thức ăn và củi ở mức tối thiểu sẽ giúp ích rất lớn trong việc làm giảm nguy cơ xuất hiện dịch hạch.

Chó cần được triệt sản, bởi cách này sẽ giúp làm giảm bản năng săn mồi của nó. Ngoài ra, những chú chó được nuôi trong nhà dường như ít bị tiếp xúc với vi khuẩn Yersinia. Nhưng nếu như bạn không có biện pháp giữ chúng trong nhà thì bạn cần phải đưa ra biện pháp chăm sóc phòng ngừa bọ chét cho chú chó của bạn.

Khi đi đến những nơi có sự xuất hiện của vi khuẩn gây bệnh dịch hạch thì cách tốt nhất là bạn cần phải kiểm soát chú chó của mình bằng dây xích hoặc luôn giữ nó trong môi trường được kiểm soát để hạn chế động vật gặm nhấm hoang dã hoặc bọ chét mang mầm bệnh.

Bệnh Dịch Hạch Ở Chó Mèo

Bệnh dịch hạch ở chó là 1 căn bệnh truyền nhiễm rất mãnh liệt, chủ yếu là ở chó non. Những con chó già tuổi cũng dễ bị mắc bệnh dịch hạnh. Ngoài ra bệnh dịch hạch còn lây truyền sang cả mèo và sang cả các động vật ăn thịt (chồn hôi, thuỷ thắt (con rái cá nâu – ND), chó núi, linh cẩu vằn, chó sói, cáo v.v…).

Tác nhân gây ra bệnh dịch hạch là virus. Bệnh dịch hạch lây truyền qua đường hít thở (hô hấp – ND) và đường tiêu hoá. Sau khi lọt vào cơ thể virus cụ chăm sóc, thức ăn, ôi thiu Là nơi ở và đệm đã có chó ốm ở và nằm hoặc có thể do người, do các phương tiện giao thông.

Các dấu hiệu của bệnh: Khi chó mới bị mắc bệnh dịch hạch thì rất khó để phát hiện. Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh là: chó hơi khó chịu, uể oải, mệt nhẹ, lông xù lên, ăn kém, thỉnh thoảng nôn mửa, có vẻ chối từ công việc, niêm mạc mắt … mồm đỏ lên, nước mắt và nước mũi chảy ra nhưng không nhiều, hơi bị đi tháo dạ. Những dấu hiệu này có thể thể hiện ở những con chó này thì mãnh liệt hơn nhưng ở những con chó khác thì lại yếu hơn. Khi vừa mới bắt đầu bị mắc bệnh, nhiệt độ cơ thể của chó tăng lên đến 39,5oC – 40 oC, nhiêệ độ như vậy kéo dài trong 2 đến 3 ngày liền, sau đó dần dần nhiệt độ hạ xuống mức bình thường. Đối với những con chó khoẻ thì đến đây ta có thể nói là đã kết thúc bệnh tật và dần dần hồi phục là sức khoẻ, nhưng đối với những con chó yếu thì sức khoẻ bề ngoài tưởng là bình phục nhưng nhiệt độ lại bỗng dưng tăng lên đến 40oC – 41oC và sự thương tổn các niêm mạc lại trầm trọng hơn. Nước mũi chảy ra nhiều, biến thành mủ và có màu sắc vàng – xanh, 2 mí mắt khép lại, chó sợ ánh sáng, đôi khi giác mạc mắt vẩn đục. Niêm mạc mũi đỏ lên, phù, nước mũi khô lại và nứt ra. Chó hắt hơi, mũi cọ vào chân, hay liếm mép. Sau đó nước mũi lại chảy ra, lúc đầu trong, sau đó là chất mủ. Nước mũi chảy ra bịt kín các ngách mũi, đóng thành vảy xung quanh vành mũi làm cho chó rất khó thở.

Nếu bệnh tiến triển theo chiều hướng nặng thêm thì chó sẽ bị ho. Lúc đầu chó ho khan, đau cổ, sau đó ho ẩm và có đờm. Khi chó bị thương tổn đường hô hấp sâu thì chó sẽ bị viêm phế quản – phổi, nhịp thở khoảng từ 60 – 80 trong 1 phút, nước mủ từ mũi chảy ra, có màu xám – vàng – xanh và mùi rất khó chịu. Chó ho đau đơn, 2 má sưng to lên, đi lại rất khó khăn, nằm rên, không ăn uống gì. Khi bị bệnh dịch hạch chó đang bị táo bón cũng nhanh chóng chuyển sang tình trạng đi tháo dạ. Phần lớn các trường hợp bệnh đau dạ dày – ruột lại tiến triển như bị viêm dạ dày – ruột rất nặng và thường là chó bị chết.

Lúc bệnh ở thời điểm cao độ hoặc lúc trạng thái cơ thể đã bắt đầu khá lên thì xuất hiện sự thương tổn hệ thần kinh: chó khó chịu, hay sợ hãi, sự cảm giác giảm sút hoặc sự kích thích các cơn co giật của các nhóm cơ khác nhau tăng lên. Thông thường các cơn đau thần kinh kết thúc bằng các được cắt các cơ quan riêng biệt, tức là ở chó có thể xuất hiện sự rối loạn chuyển động, hoặc bị mù, bị điếc, hoặc mất cảm giác khứu giác, sa lưỡi, tứ chi và đuôi bị bại liệt. Bệnh dịch hạch có thể có dạng rất dễ nhận ra dấu hiệu của bệnh, ví dụ như bệnh đau dạ dày – ruột, bệnh thuộc về các cơ quan hô hấp hoặc bệnh thuộc về hệ thống thần kinh trung ương.

CHỐNG BỆNH DỊCH HẠCH Ở CHÓ

Cần phòng cho chó tránh khỏi bệnh truyền nhiễm (virus bệnh dịch hạch). Nuôi dưỡng chó nghiệp vụ ở những nơi kín, không cho tiếp xúc với chó lạ, mèo lạ hoặc các động vật khác dễ bị mắc bệnh dịch hạch. Hàng năm các bộ phận thú y chuyên khoa phải đặt ra thời gian tiêm phòng cho chó để chống bệnh dịch hạch. Có thể tiêm phòng dịch cho chó con ngay từ khi chúng bước sang tháng tuổi thứ 3. Phải đặc biệt quan tâm đến những con chó gầy yếu và bị rối loạn hệ thần kinh mặc dù không đáng kể, phải xem xét kỹ chúng như những con vật có khả năng truyền virus.

Cần giúp cơ thể chó chống lại các bệnh truyền nhiễm.

Khi phát hiện thấy các dấu hiệu của bệnh dịch hạch hoặc nghi ngờ một số con chó đã mắc bệnh dịch hạch thì phải mau chóng tách chúng ra khỏi các con chó đang khỏe và nuôi cách ly. Những con chó con thì phải theo dõi và đo nhiệt đô cho chúng hàng ngày vào buổi sáng và buổi chiều. Sau mỗi lần đo nhiệt độ cho chó cần sát trùng bằng dung dịch natri hydro

Tất cả các con chó có nhiệt độ cơ thể tăng thì phải cách ly chúng, mọi hoạt động tập luyện phải ngưng lại và tiến hành tẩy uế chỗ ở của chó một cách cẩn thận. Khí cụ phải sát trùng bằng dung dịch natri hydroxit 2%. Dụng cụ cho ăn và cho uống sau mỗi lần sử dụng phải sát trùng bằng nước sôi.

Khi xuất hiện bệnh dịch hạch phải cho chó ăn tốt hơn, cho chó ở nơi sạch sẽ, khô ráo và có đệm dày. Việc điều trị những con chó bệnh cần tiến hành riêng biệt từng con và phải dưới sự chỉ dẫn của chuyên gia thú y.

Bài Viết 2 1. Nguyên nhân gây bệnh

Yersinia peptis thuộc giống Yersiania họ Enterobacteriaceae được phân lập lần đầu tiên bởi A. Yersin năm 1894. Vi khuẩn dịch hạch là một trực khuẩn ngắn, Gram âm, bắt màu đậm ở hai đầu nhất là khi nhuộm Wayson hay xanh methylene. Tạo vỏ trong bệnh phẩm hoặc khi nuôi cấy ở 37 độ C, không tạo vỏ khi nuôi cấy ở 28 độ C. Không sinh nha bào, không di động.

2. Dịch tể học

Bệnh dịch hạch là một bệnh nhiễm trùng ở động vật gặm nhấm, có thể rất nguy hiểm và là chỉ tiêu kiểm dịch động vật. Bệnh thường xảy ra trên các loài gặm nhấm tuy nhiên gần như các loài động vật có vú đều có thể nhiễm Yersinia peptis.

Sự truyền lây Y. pestis giữa các vật chủ yếu xảy ra do bọ chét cắn, ngoài ra bệnh có thể truyền thông qua tiếp xúc khi có vết thương, hoặc có thể do hít phải các chất bài tiết từ các động vật bị dịch hạch thể phổi. Ngược lại, chó mèo thường mắc bệnh do ăn phải các động vật gặm nhấm, tỉ lệ nhiễm bệnh do bọ chét của con mồi cắn thường thấp.

3. Sinh bệnh học

Tùy thuộc vào con đường xâm nhập của vi khuẩn, thông qua vết cắn của bọ chét hoặc do tiếp xúc qua vết thương hở, có thể có hai phương thức sinh bệnh khác nhau.

Khi ăn phải hoặc hít phải mầm bệnh (không do vết cắn của bọ chét), các vi khuẩn đã có sẵng lớp vỏ bảo vệ từ vật chủ trước mà không cần thông qua quá trình nhân lên trong tê bào bạch cầu đơn nhân, điều này làm cho việc nhiễm trùng diễn ra nhanh hơn, thời gian ủ bệnh chỉ còn từ 1-3 ngày. Tổn thương tại vị trí nhiễm thường rất ít xảy ra. Các tổn thương có thể được nhận rõ tại các hạch bạch huyết mà hệ thống bạch huyết chảy qua vị trí nhiễm. Nhận biết các hạch có biểu hiện bệnh thông qua sự to lên, dày, tạo thành các ổ abscess, có thể có mủ rò ra bên ngoài. Các hạch bạch huyết ở sâu hoặc các bộ phận khác của cơ thể có thể bị nhiễm tương tự thông qua hệ tuần hoàn hay hệ bạch huyết. Ở trạng thái nhiễm trùng huyết, các mô khác như gan, mắt, thận, tim, lách, não, phổi đều bị nhiễm trùng. Y. pestis có chứa độc tố có thể gây phù, sốc nhiễm trùng, gây đông máu nội mạch. Diễn biến lâm sàng của bệnh có thể kéo dài từ 48 giờ đến 2 hoặc 3 tuần.

Ở chó chỉ phát triển các biểu hiện lâm sàng nhẹ như sốt, sự gia tăng của các bạch cầu. Tiếp xúc với các vật nuôi hoặc động vật hoang dã được xem như là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến lây nhiễm bệnh dịch hạch trên người.

4. Biểu hiện lâm sàng

Mèo Ở mèo, ba biểu hiện lâm sàng của bệnh đã được công nhận gồm: bệnh thể hạch, thể phổi và nhiễm trùng huyết, phổ biến nhất và gây tử vong nhiều nhất là bệnh thể hạch. Dịch hạch ở mèo có thể có các triệu chứng như sốt cao liên tục (40,7 độ C – 41,2 độ C), mất nước, tăng nhạy cảm và các hạch to lên.

Bệnh dịch hạch thể nhiễm trùng huyết có thể phát triển có hoặc không có biểu hiện sung to của các hạch. Chúng lây lan qua đường máu và gây nhiễm cho hầu hết các cơ quan trong cơ thể, mặc dù cơ quan thường cảm nhiễm nhất là phổi. Bệnh có thể có các biểu hiện của sốc nhiễm trùng như sốt, chán ăn, nôn, tiêu chảy, tăng nhịp tim, mạch yếu, hạ huyết áp, lạnh chi, đông máu nội mạch, tăng bạch cầu, trong đó tăng bạch cầu là đặc trưng của thể bệnh này ở mèo. Hình thức nhiễm trùng có thể gây tử vong trong 1 – 2 ngày sau khi có sự hiện diện của vi khuẩn.

Dịch hạch thể phổi ở mèo có thể là sự phát triển của bệnh dịch hạch thể nhiễm trùng huyết hay thể hạch. Nguyên nhân chính gây dịch hạch thể phổi thường do hít phải dịch bài thải của động vật nhiễm bệnh. Bệnh dịch hạch thể phổi do hít phải hay do phát triển từ các thể bệnh khác thường có tiên lượng xấu.

Chó Các biểu hiện lâm sàng thường gặp ở chó như sốt, chán ăn, sưng to hạch tử cung, hạch dưới hàm, các ổ abscess, ho. Trong một báo cáo về bệnh dịch hạch ở 3 con chó, dáu hiệu lâm sàng bao gồm hôn mê (3/3), sốt (2/3), tổn thương da có mủ ở vùng cổ tử cung (2/3).

5. Chẩn đoán

Có thể chẩn đoán khá chính xác bệnh dịch hạch thông qua các thông tin lâm sàng và dịch tể học nhưng cũng cần phải có các xét nghiệm cận lâm sàng để xác nhận lại. Dịch hút từ các hạch bạch huyết, máu, mô bị nhiễm bệnh có thể được lựa chọn để xét nghiệm tùy theo biêu hiện lâm sàng của bệnh. Dịch hạch thể phổi có thể được chẩn đoán thông qua các tổn thương ở phổi khi X quang lồng ngực.

Thực hiện xét nghiệm kháng thể huỳnh quang trực tiếp đối với mẫu dung dịch hoặc thực hiện phết tế bào nếu mẫu là các mẫu mô. Cả hai phương pháp trên đều cho kết quả nhanh, chẩn đoán khá chính xác với độ tin cậy cao.

Để thực hiện chẩn đoán huyết thanh, cần thực hiện lần và hai lần cần được thu thập mẫu cách nhau từ 10 tới 14 ngày để cơ thể có tạo kháng thể chống lại Y. pestis. Các phương pháp có thể sử dụng như phương pháp ngưng kết hồng cầu, ngăn ngưng kết hồng cầu, phản ứng kết hợp bổ thể. Hiệu giá kháng thể ở lần 2 tăng gấp 4 lần lần 1 được xem là dương tính.

Nuôi cấy phân lập vi khuẩn, các mẫu bệnh phẩm có thể được thu thập từ các nguồn như mụn ở da, hạch, máu, đờm, dịch não tủy… (trước khi điều trị kháng sinh)..

6. Bệnh tích

Ở mèo khi mắc bệnh có thể gây tử vong ở mức 50%, và xuất hiện hoại tử ở tuyến thượng thận, lá lách, gan, có thể gây nên viêm phổi thứ phát. Các ổ viêm, abscess tồn tại tại các hạch. Trong 40 trường hợp tử vong, amidan, hạch dưới hạm, hạch màng treo ruột… đều bị ảnh hưởng. Các hạch có thể bị xuất huyết, tạo abscess, hoại tử. Các hạch bạch huyết sau khi được điều trị khỏi ở khía cạnh lâm sàng chỉ có thể tăng sinh các mô lympho. Vi khuẩn xâm nhập vào mô phổi, gây bệnh viêm phổi kẻ và đặc trưng bởi sự xuất hiện tập trung cao vi khuẩn ở nơi xuất huyết. Có thể vừa xảy ra abscess và hoại tử.

Trên chó thí nghiệm chỉ xảy hiện tượng sốt nhẹ nên không có các dấu hiệu bệnh lý được miêu tả

7. Điều trị

Các bác sĩ nên bắt đầu các phương pháp điều trị bằng kháng sinh trước khi có kết quả xác định bệnh từ phòng thí nghiệm. Các con vật có dấu hiệu về hô hấp nên thực hiện X quang lồng ngực để xác định chúng có mắc phải dịch hạch thể phổi hay không. Các con vật đều phải được kiểm tra bọ chét, nếu có sự hiện diện của bọ chét ở trong lồng hay xung quanh phòng khám nên tiến hành điều trị bằng carbamate hoặc pyrethrins. Các mụn mủ nên được chọc để loại dịch và xử lý bằng chlorhexidien diacetate.

Y. pestis là một vi khuẩn tương đối nhạy cảm với các loại kháng sinh. Lựa chọn để điều trị cho người mắc bệnh thường là streptomycin, ngoài ra có thể sử dụng đơn gentamicin hay kết hợp doxyciline cho kết quả điều trị tương đương với streptomycin và tetracycline

Bảng 1: Các loại kháng sinh được được sử dụng trong thú y

IM: tiêm bắp, IV: tiêm mạch, PO: đường uống, SC, tiêm dưới da a liều cấp trong một khoảng thời gian xác địnhb gây độc trên thậnc liều cần cấp cho một con mèo(không phải liều mg/kg)d thuốc có thể gây suy tủy, cần giám sát số lượng hồng cầu trên con bệnh. Tiếp tục điều trị bằng tetracycline trong 7 ngày ở các con vật đã hết các triệu chứng của bệnh. Ở người khi mắc bệnh do tiếp xúc khi chăm sóc cho con vật bị nhiễm bệnh nên được điều trị với một liệu trình tương tự. Tiên lượng về bệnh phụ thuộc vào các triệu chứng và loài mắc phải.

Con bệnh phải được cách ly từ 48 tới 72 giờ đầu tiên khi tiến hành điều trị bằng kháng sinh. Việc điều trị kịp thời và chính xác có thể giảm tỉ lệ tử vong ở người và động vật từ hơn 60% đến còn dưới 15%. Đối với con vật mắc phải dịch hạch thể phổi nên được điều trị lưu trú lâu hơn nhằm tránh việc tiếp xúc có thể gây nhiễm bệnh của chủ vật nuôi.

8. Phòng bệnh

Các bác sĩ thú y nên đặc biệt thận trọng khi thăm khám các con mèo ốm trong một đợt bùng phát bệnh dịch hạch, nên trang bị các biện pháp phòng ngừa cần thiết để bảo vệ chính mình, nhân viên và cả khách hàng.

Việc kiểm soát bọ chét cho chó mèo nên cần được đặc biệt quan tâm, do vật nuôi có thể dễ dàng mắc phải và lây lan cho chủ của chúng. Sử dụng các thuốc diệt hoặc ức chế bọ chét như fipronil đã cho hiệu quả trên việc kiểm soát các vector truyền lây là bọ chét trong môi trường dịch bệnh.

Vaccine sống hoặc chết của Y. pestis được sản xuất chỉ sử dụng trên người. Tuy nhiên việc tiêm vaccine cho người kể cả nhân viên thú y là không được khuyến cáo. Ở mèo việc sử dụng một vaccine chết đã không cho kết quả khả quang, chúng không thể bảo vệ con vật khỏi nhiễm khuẩn hay chết thậm chí chúng còn kéo dài các triệu chứng lâm sàng của bệnh.

chúng tôi

Nguyên Nhân Chó Bị Sưng Cổ Có Phải Bệnh Dịch Hạch

4.5

/

5

(

11

bình chọn

)

Chó bị sưng cổ nhưng bạn chưa biết nguyên nhân tại sao, bệnh này không biết có nguy hiểm không.

Nguyên Nhân Chó Bị Sưng Cổ

Chó bị sưng cổ họng do sủa quá nhiều, chỉ cần gặp người lạ hoặc những trường hợp quá tăng động có thể khiến chó sủa liên tục.

Chó bị sưng cổ họng do viêm Amidan, khiến chó bị sốt, nôn, ho không ngừng và nổi hạch ở cổ, amidan sưng to và các tuyến giáp có thể bị áp xe.

Chó bị viêm phế quản, ho nhiều, hô hấp khó khăn và sốt, đây là nguyên nhân thường gặp ở những chú chó già hoặc những chú chó sống trong bầu không khí bị ô nhiễm, bụi bẩn dày đặc.

Chó bị viêm phổi thường sốt cao và khó thở, trong chất dịch mủ ở mắt và mũi chó thường có thể có các vi khuẩn gây bệnh.

Viêm hạch bạch huyết, đây là tình trạng hạch bạch huyết bị viêm do nhiễm trùng, bạch cầu trung tính và các tác nhân gây nhiễm trùng khác gây nên.

Các tác nhân gây dị ứng và các tế bào chống ký sinh trùng sẽ di chuyển vào hạch bạch huyết dẫn đến cảm giác sưng và nổi hạch.

Dấu Hiệu Chó Bị Sưng Cổ

Chó bị sưng cổ họng là một trong những bệnh có biểu hiện dễ nhận biết nhất, một số dấu hiệu cụ thể như:

Khu vực bên dưới hàm bị sưng tấy lên, chó bị khó thở, thở khò khè có thể nặng đến độ không thở được.

Kèm theo đó chó sẽ bị sổ mũi và ho không ngừng, dẫn tới đường hô hấp của chó bị ảnh hưởng nặng nề.

Cổ họng của chó bị sưng tấy gây nghẹn khi nuô và ngứa ngáy nóng rát, đi kèm với những triệu chứng đau rát, khô họng, ho khan, khàn tiếng và chảy nước mũi.

Chó cũng mất cảm giảm ngon miệng và thèm ăn do các triệu chứng bồn nôn và muôn nôn khiến chó không ăn được gì, chó sẽ biểu hiện khó chịu và giận giữ khi đang nghiễm bệnh.

Điều Trị Chó Bị Sưng Cổ

Khi nhận thấy một trong những tình trạng chó bị sưng cổ họng, cần đưa chú chó của mình đến ngay các bệnh viện thú y. Khi đó, bác sĩ thú y của bạn sẽ thực hiện một cuộc kiểm tra sức khỏe toàn diện cho chó của bạn.

Một số xét nghiệm tổng quát sẽ được tiến hành, để tìm ra chính xác nguyên nhân gây nên tình trạng sưng cổ ở chó.

Đồng thời, Bạn sẽ cần phải cung cấp cho một bệnh sử toàn diện của chó, bao gồm các triệu chứng trước đó, và các vấn đề có thể có thể gây ra tình trạng này.

Thông tin bạn cung cấp có thể giúp bác sĩ thú y xác định nguyên nhân gây ra bệnh ở chó. Tù đó có phương pháp điều trị thích hợp, giúp chú cún của bạn mong khỏe lại.

Viêm Hạch Bạch Huyết (Lymphadenopathy) Ở Chó

Các hạch (hoặc các tuyến) bạch huyết, là những khối mô nhỏ có thể được thấy khắp cơ thể. Chúng đóng một phần không thể thiếu trong hoạt động của hệ miễn dịch của chó, hoạt động như các bộ lọc máu, và là nơi lưu trữ các tế bào bạch huyết. Do đó, chúng thường là những dấu hiệu đầu tiên của bệnh trong các mô.

Khi các mô bị viêm, các hạch bạch huyết khu vực mà các mô này dẫn lưu vào cũng sẽ có phản ứng viêm và sưng. Tình trạng sưng này là do sự gia tăng bạch cầu (tăng sản) phản ứng do sự xuất hiện khu trú của một tác nhân gây bệnh. Tình trạng này về mặt y tế được gọi là tăng sản phản ứng: khi bạch cầu và các tế bào plasma (tế bào tiết ra kháng thể) nhân lên để phản ứng với một chất kích thích chúng sản xuất (kích thích kháng nguyên), làm cho hạch bạch huyết phì đại.

Viêm hạch bạch huyết là tình trạng trong đó các tuyến bạch huyết bị viêm do nhiễm trùng. Bạch cầu trung tính (loại bạch cầu chiếm số lượng nhiều nhất, và loại đầu tiên hoạt động chống lại nhiễm trùng), các đại thực bào hoạt hóa (các tế bào ăn vi khuẩn và các tác nhân gây nhiễm trùng khác), và bạch cầu ái toan (các tế bào chống ký sinh trùng và các tác nhân gây dị ứng) sẽ di chuyển vào hạch bạch huyết trong suốt giai đoạn bị viêm hạch bạch huyết. Sự tập hợp của các tế bào này dẫn đến cảm giác sưng và nổi hạch.

Các tế bào ung thư cũng có thể được phát hiện trong sinh thiết hạch bạch huyết (mẫu mô). Các tế bào ung thư có thể là nguyên phát, có nguồn gốc từ hạch bạch huyết ( u lympho ác tính), hoặc có thể ở đó do sự lây lan ung thư từ một vị trí khác trong cơ thể ( di căn).

Triệu chứng và Phân loại

Các hạch bạch huyết có thể được phát hiện bằng cách sờ, nhưng đôi khi sẽ không có triệu chứng lâm sàng. Có thể cảm thấy sưng ở khu vực bên dưới hàm ( dưới hàm dưới), hoặc xung quanh vai. Sưng ở một chân cũng có thể là kết quả của sưng hạch bạch huyết ở phía sau của chân (cơ kheo), hoặc gần khớp chân ( nách (auillary) – tương quan với nách (armpit)). Các hạch sưng ở vùng gần háng (bẹn) có thể khiến chó đại tiện khó khăn. Chó cũng có thể mất cảm giác ngon miệng do buồn nôn, và muốn nôn khi nó ăn. Bạn cũng sẽ thấy chó cảm thấy khó ở khi cơ thể đang bị nhiễm bệnh. Nếu các hạch bạch huyết của chó bị sưng to thì nó có thể khó ăn hoặc khó thở.

Nguyên nhân

Tăng sản bạch huyết: khi các hạch bạch huyết phản ứng với một tác nhân gây nhiễm trùng bằng cách sản sinh ra các tế bào bạch cầu dư thừa, nhưng không phải chính chúng bị nhiễm

Viêm hạch bạch huyết: khi các hạch bạch huyết tự bị nhiễm nguyên phát hoặc thứ phát

Tác nhân truyền nhiễm: ○ Bệnh sporotrichosis: da bị nhiễm nấm từ đất, cỏ khô, thực vật (chủ yếu là hoa hồng trong vườn); ảnh hưởng đến da, phổi, xương và não

Vi khuẩn: ○ Rickettsia: lây truyền qua ve và bọ chét ○ Giống Bartonella: lây truyền do cắn ruồi ○ Brucella canis: lây truyền qua đường tình dục; trong quá trình nhân giống ○ Pasteurella: truyền qua hệ hô hấp ○ Yersinia pestis: lây truyền qua bọ chét và có thể là loài gặm nhấm; còn được gọi là bệnh dịch hạch ○ Fusobacterium: nhiễm trùng miệng, ngực, cổ họng, phổi ○ Francisella tularensis: bệnh tularemia; lây truyền qua ve, ruồi hươu, và do sự phân tán khí từ một thân thịt bị nhiễm bệnh (thường xảy ra trong khi gặm cỏ) ○ Mycobacterial: truyền qua nguồn nước bị nhiễm khuẩn

Chẩn đoán

Bác sĩ thú y của bạn sẽ thực hiện một cuộc kiểm tra sức khỏe toàn diện cho chó của bạn. Một xét nghiệm máu tổng quát sẽ được tiến hành, bao gồm xét nghiệm hóa học máu, công thức máu, xét nghiệm chất điện phân, phân tích nước tiểu, và xét nghiệm phết máu.

Hút hạch bạch huyết (chất lỏng) cũng sẽ được thực hiện để kiểm tra bằng kính hiển vi (tế bào học). Mô phát triển bất thường, hoặc khối u (u tân sinh), và nhiễm nấm cũng có thể được xác nhận thông qua kiểm tra tế bào học từ dịch hút từ hạch bạch huyết.

Bạn sẽ cần phải cung cấp cho một bệnh sử toàn diện của chó, bao gồm các triệu chứng trước đó, và các vấn đề có thể có thể gây ra tình trạng này. Thông tin bạn cung cấp có thể giúp bác sĩ thú y xác định cơ quan đang gây ra sự phì đại thứ cấp của các hạch bạch huyết khu vực.

Điều trị

Bác sĩ thú y của bạn sẽ kê đơn thuốc dựa trên nguyên nhân nền của phì đại hạch bạch huyết.

Chăm sóc

Một số bệnh nhiễm trùng là bệnh động vật truyền sang người, có nghĩa là chúng có thể lây truyền sang người. Các bệnh hệ thống, như bệnh sporotrichosis, Francisella tularensis, Yersinia pestis, và Bartonella spp, đều bệnh động vật truyền sang người. Nếu chó mắc một trong những bênh này, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ thú y để có những biện pháp phòng ngừa để tránh nhiễm trùng

Bệnh Care Ở Chó (Bệnh Sài Sốt)

Bệnh care (Sài sốt) là một bệnh rất nguy hiểm ở chó và có thể gây chết chó con từ 2 – 6 tháng tuổi. Chó trưởng thành trên một năm tuổi ít thấy mắc bệnh này (ít chứ không phải là không có). Vì bệnh chưa có thuốc đặc trị nên thường chúng ta sẽ phải chữa trị các triệu chứng của chó, 1 số chó sau khi chữa trị thành công sẽ có di chứng thần kinh như: Đi choải chân, run rẩy khi đi lại,…

– Hầu hết chó vừa mắc bệnh sẽ không có triệu chứng. Vì thế khi phát hiện chó mắc bệnh thường ở thể cấp tính với triệu chứng: sốt cao từ 39- 42oC, các niêm mạc đều bị viêm, mắt chó bị sưng húp, chảy nước mắt và có ghèn liên tục.

– Chó thở khó khăn và khò khè, rên rỉ vì viêm phổi cấp có mủ.

– Viêm mạc đường tiêu hóa nên chó có biểu hiện nôn mửa liên tục, tiêu chảy có máu và chất nhầy. Hội chứng viêm mạc đường tiêu hóa làm chó kiệt sức, mất nước và chất điện giải nên chết rất nhanh.

– Triệu chứng thần kinh cũng xảy ra phổ biến như chó đi lại xiêu vẹo, lên cơn co giật, mắt trợn ngược, chảy nước dãi. Trên mặt, da bụng, bẹn, nách xuất hiện các đốm đỏ như mụn mủ vỡ ra và khô đóng vẩy.

– Chó mệt mỏi, ủ rủ, ăn ít hoặc bỏ ăn hoàn toàn mà chỉ uống nước, sau đó chó sốt cao ( từ 40 – 40.5oC trong vòng 24 – 48h ).

– Trong khi sốt chó bỏ ăn, mắt đỏ.

– Sau cơn sốt ở thời kỳ đầu, thân nhiệt trở lại bình thường và ăn một ít, chó vẫn có biểu hiện mệt mỏi và ủ rũ.

– Sau 3 – 4 ngày sau chó sẽ trải qua đợt sốt thứ 2, đợt sốt này kéo dài hơn đợt đầu (từ 3 – 4 ngày).

– Thời kỳ này nhịp tim của chó tăng rõ, mắt và mũi đổ ghèn nhiều, chó thở khó, đường hô hấp viêm cata.

– Hiện tượng viêm phổi và viêm đường tiêu hóa thể hiện như : Chó thở khò khè, tiêu chảy lẫn (máu hoặc chất nhầy), do phân có niêm mạc ruột nên sẽ rất tanh và có màu sẫm cafe.

– Khi đến thời kỳ này thì 99% là không cứu được (với trường hợp phát hiện trễ hoặc không vào thuốc thường xuyên khi còn ở 2 thời kỳ đầu. Còn nếu phát hiện sớm và đi chích thuốc đều thì còn cơ hội).

– Giai đoạn này chó thường bỏ ăn hoàn toàn và tiêu chảy lẫn cấp vì thế chó gầy sút nhanh, hốc mắt trũng sâu, bụng hóp, lông xơ xác, chó đi xiêu vẹo hoặc nằm 1 chỗ, không mở mắt nổi và chết ngay sau 12 – 24h

Nếu chó bị mắc Care từ 10 ngày trở lên sẽ có triệu chứng thần kinh: Chó bị co giật hoặc đâm sầm vào tường. Khi đụng vật cản chó nổi cơn co giật hoặc có thể sùi bọt mép.

Dùng vacxin nhược độc care tiêm phòng cho chó. Vacxin này an toàn, có thời gian bảo hộ cho chó từ 6 tháng đến 1 năm. Vì kháng thể từ mẹ có thể bảo vệ cho chó con đang bú từ 4 – 6 tuần, nên chỉ nên tiêm vacxin cho chó con từ 2 tháng tuổi, để chắc chắn nên tiêm lại lần 2 vào lúc chó con được 3,5 tháng tuổi. Đối với chó cảnh và chó nghiệp vụ, việc sử dụng huyết thanh tối miễn dịch là cần thiết. Về nguyên tắc phòng chống bệnh care ở chó nên dùng kháng huyết thanh cho những con mới chớm bị bệnh hay tốt hơn ở những con còn khỏe nhưng đã tiếp xúc với chó bệnh. Sau khi dùng kháng huyết thanh 3 tuần cần tiêm lại vacxin. Cũng có thể dùng vacxin đa giá để hạn chế công tiêm, tiêm một mũi phòng 5 đến 6 bệnh như: Cúm, ho, dại, care…

Điều trị việc điều trị bệnh care ở chó chỉ có kết quả khi có hộ lý tốt và điều trị theo phác đồ sau:

+ Truyền dịch vào mạch máu:

Truyền NƯỚC SINH LÝ MẶN NGỌT cho chó giúp cung cấp năng lượng, trợ sức, trợ lực, bù nước, giải độc. Kết hợp tiêm MA OSAL và ATROPIN giúp chống nôn. RT

Bệnh Care ở chó rất hay ghép với các bệnh như: Viêm ruột hoại tử, cúm, dại… Nên dùng kháng sinh để phòng chống các bệnh kế phát, có thể dùng một trong các thuốc sau:

– MARFLO-45% tiêm bắp thịt hoặc dưới da với liều 1ml/10-15kg TT. Một mũi tiêm tác dụng 3 ngày.

– CEFQUINOM 150 tiêm bắp thịt hoặc dưới da với liều 1ml/8-10kg TT. Một mũi tiêm tác dụng 2 ngày.

Bệnh Parvovirus Ở Chó

Bạn đang quan tâm về những căn bệnh truyền nhiễm ở chó để phòng tránh? Cún của bạn có những biểu hiện bất thường về sức khỏe? Bạn lo lắng em cún có thể đã mắc bệnh Parvovirus? Dreampet sẽ giải đáp cho bạn về loại bệnh thường gặp ở chó này!

Bệnh Parvovirus (Parvo) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Canine Parvovirus (CPV) gây nên. Parvovirus rất hay xảy ra, lây lan nhanh và gây tử vong cao với chó non dưới một năm tuổi. Đặc biệt chó chưa được tiêm phòng bệnh bằng vaccine, có hệ miễn dịch yếu. Bên cạnh đó, chó trưởng thành cũng vẫn có thể mắc bệnh này. Can thiệp sớm vẫn có thể điều trị được. Nếu không điều trị, tỷ lệ tử vong trên 80% chó chết vì bệnh Parvovirus.

Bạn nên biết, bệnh chỉ gây ra ở chó mà không thể truyền sang người hay các loài động vật khác.

Bệnh truyền nhiễm trực tiếp từ loài chó với nhau. Qua phân thải có chứa virus phát tán trong môi trường. Thậm chí, các phương tiện giao thông như lốp xe, giày dép có dính phân chó bị nhiễm bệnh. Hay bàn tay tiếp xúc của con người từ chó ốm sang chó khỏe cũng có thể làm lây lan bệnh. Đó là lý do vì sao nhiều chú chó cũng có thể bị nhiễm bệnh ngay cả khi chúng không hề rời khỏi nhà.

Đặc điểm của bệnh Parvovirus

Loại virus này sức mạnh đặc biệt. Virus lây nhiễm mạnh và nhanh chóng phân chia tế bào trong các tế bào chủ. Virus này không được bao bọc trong một lớp chất béo như nhiều virus khác nên chúng có một khả năng chống chịu đặc biệt với nhiều môi trường khắc nghiệt. Virus này ổn định trong nhiều môi trường và chống chịu được ở một khoảng pH rộng, có nhiệt độ cao. Chó trên 6 tháng tuổi thường có một đề kháng tự nhiên với Parvovirus. Nhiều con trong số này chỉ biểu hiện tiêu chảy thoáng qua. Chó 1-2 năm tuổi có thể bị bệnh ở mức nhẹ và không đáng chú ý. 

Triệu chứng thường biếu hiện trong vòng 3-10 ngày kể từ ngày nhiễm bệnh. Chó có biểu hiện: mệt mỏi, biếng ăn, nôn, sốt và các triệu chứng khác của mỗi thể bệnh.

Hầu hết chó bị ảnh hưởng bệnh lớn ở lứa tuổi 6-20 tuần tuổi. Tỷ lệ tử vong cao và nếu được điều trị đúng mức thì tỷ lệ sống sót cũng khá cao. Bệnh thường có triệu chứng tiêu chảy nặng. Điều đó gây mất nước, điện giải, máu và nhiễm trùng thứ cấp ở chó. Do đó, chó có biểu hiện thất thần, sụt cân nhanh, đau đớn, shock do mất máu…Chó thường sẽ không chết do virus, nhưng thường chết do nhiễm trùng thứ cấp.

Cách phòng bệnh Parvovirus

1.Việc phòng bệnh bằng cách không cho tiếp xúc với mầm bệnh thường không đem lại hiệu quả cao. Do đó hầu hết Bác Sỹ Thú Y đều khuyên nên cho chó được tiêm chủng phòng bệnh sớm.

2. Chó non dưới 4 tháng tuổi chưa được miễn dịch với bệnh Parvo không nên cho tiếp xúc với chó khác. Tránh các tác nhân “trung gian ” có thể truyền bệnh : môi trường, dụng cụ chăn nuôi, vận chuyển chó, hoặc các chủ chó khác.

3. Chế độ chăm sóc, dinh dưỡng đủ chất và khoa học nhằm tăng sức kháng bệnh của chó. Tẩy giun sán cho chó non ngay từ một tháng tuổi.

4. Chủ nuôi phải sau ít nhất 1 tháng từ khi có chó chết do bệnh mới được mang chó khác về nuôi. Xác chó chết nghi mắc bệnh phải được xử lý chôn sâu giữa hai lớp vôi bột hoặc đốt xác tiêu huỷ. Không thả trôi sông, suối, thùng rác hoặc các nơi công cộng.

5. Cần làm sạch và sát trùng thường xuyên môi trường, chuồng trại, dụng cụ chăm sóc và các phương tiện vận chuyển chó.

6. Vệ sinh phòng bệnh: diệt ve, bọ chét, thường xuyên tắm cho chó. Sát trùng chuồng trại, nơi ở của thú.

7. Cách ly chó khỏe với chó bệnh, không cho chó khỏe tiếp xúc với phân của chó bệnh.

Lưu ý: Cần phải có JavaScript với nội dung này.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Dịch Hạch Ở Chó trên website Dhrhm.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!